Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

ĐỨC PHẬT LÀ BẬC GIÁC NGỘ

 🔆🍀ĐỨC PHẬT LÀ BẬC GIÁC NGỘ🔆🍀

Đức Phật là một con người không liên hệ gì với bất kỳ một đấng Thượng Đế hay đấng “siêu nhiên” nào cả. Ngài không phải là Thượng Đế, cũng không phải là hoá thân của Thượng Đế hay bất kỳ một nhân vật thần thoại nào. Ngài là một con người, nhưng con người siêu việt, một con người phi thường. Mặc dù vẫn sống cuộc đời của một người bình thường như mọi người, song nội tâm Ngài đã vượt qua trạng thái phàm nhân ấy. Chính vì lý do này Ngài được gọi là một chúng sanh duy nhất, một tối thượng nhân (purisuttama).

Đức Phật nói: “Này các Tỳ kheo, ví như một đóa hoa sen sanh ra và lớn lên trong nước, vươn lên khỏi mặt nước và không bị ô nhiễm bởi nước. Đức Như Lai cũng vậy, này các Tỳ kheo, sanh ra và lớn lên trong thế gian sau khi nhiếp phục đời, ta an trú, không bị đời làm ô nhiễm.”

Sơ lượt về cuộc đời Ngài:

✴️Bồ Tát sinh rằm T4, năm 623/624 TCN, tại Kapilavatthu, nay thuộc Nepal, có tên Siddhattha.

✴️Thái tử Siddhattha lên ngôi Vua năm 16 tuổi và thành hôn với Công chúa Yasodhara.

✴️ Đức vua Bồ Tát an hưởng sự an lạc trên ngai vàng thời gian 13 năm.

✴️Năm 29 tuổi, Ngài từ bỏ cung điện đi xuất gia tìm đạo giải thoát, đúng vào ngày con trai Rahula ra đời.

✴️Trải qua 6 năm, bắt đầu là tu tập thiền chỉ với 2 vị thầy nổi tiếng và đạt kết quả cao nhất, sau đó trải qua 6 năm dài tu khổ hạnh nhưng đều không chứng đạt được Trí Tuệ toàn giác.

✴️Năm 35 tuổi, ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh ấy, quay về con đường Trung Đạo, thực hành thiền chỉ và quán. Ngài đã phát triển được trí tuệ Toàn giác, thấu triệt trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã, dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi tham ái, mọi phiền não, mọi ác pháp không còn dư sót; đặc biệt diệt được mọi tiền khiên tật (chỉ Phật mới làm được điều này) do đã tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ, trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác có danh hiệu “Đức Phật Gotama” (Cồ Đàm) độc nhất vô nhị trong toàn cõi thế giới chúng sinh.

✴️Ngài thọ 80 tuổi, tức nhập Niết Bàn 543/544 tcn. Ngài đã có 45 năm thuyết Pháp độ cho vô số chúng sinh.

Ngài nhấn mạnh rằng: "Trong 45 năm thuyết pháp, Như Lai chỉ nói về Khổ - Dukkha và sự diệt khổ - Dukkhanirodha", tức chỉ nói về sự thật - sacca.

🍀

Ngài đã chứng tỏ cho mọi người thấy rằng sự giác ngộ và giải thoát nằm hoàn toàn tuyệt đối trong tay con người. Là một người tiêu biểu cho nếp sống tích cực cả bằng ngôn giáo lẫn thân giáo, Đức Phật thường xuyên khích lệ hàng đệ tử trau dồi tinh thần tự lực như vầy:

"Attadīpā viharatha, attasaraṇā anaññasaraṇā,

 dhammadīpā, dhammasaraṇā, anaññasaraṇā."

"Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một ai khác.

Hãy lấy Pháp làm ngọn đèn, lấy Pháp làm nơi nương tựa, chớ nương tựa một điều gì khác". 

Con người muốn hết khổ, thì buộc phải mạnh mẽ, hiểu biết và có khả năng sống độc lập như sư tử chúa.

🚩Làm sao để tự nương tựa mình?

✴️Trước hết phải có một bản đồ hành trình tâm linh để biết đi như nào và đi đến đâu, có nghĩa là phải hiểu biết cơ bản về Bát Chánh Đạo hay con đường Giới - Định - Tuệ.

✴️Rồi phải tự dấn thân "Ehipassika". Không thể đến đích bằng việc nghe suông, phải tu tập chỉ - quán. Đối với chúng ta ngày nay, đi cả chỉ - quán thì rất khó, nên đa phần là tu thẳng Thiền Quán.

Khi có chánh niệm, khi chánh niệm trở lên mạnh mẽ, liên tục, chính là lúc ta hoàn toàn tự tin về "nương tựa nơi mình".

🍀

Những lời nhắn nhủ cuối cùng Ngài để lại cho hàng hậu thế trong bài kinh Đại Bát Niết Bàn (mahāparinibbāna, DN.16) rất nhiều nhưng có 2 câu tiêu biểu:

✴️"Yo vo, Ānanda, mayā dhammo ca vinayo ca desito paññatto, so vo mamaccayena satthā."

"Này Ānanda, Pháp và Luật (Dhamma-Vinaya) mà Như Lai đã giảng giải và công bố cho các con, sau khi Như Lai nhập diệt hãy lấy Pháp và Luật đó làm thầy của các con”

✴️(lời cuối cùng) “Vayadhammā saṅkhārā, appamādena sampādetha”

 “Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn (không phóng dật) để thành tựu (giải thoát)."

🙏🙏🙏

Người mong cầu giải thoát khỏi sinh, già, bệnh, chết nên nghiêm túc, tinh tấn nương theo lời dạy của Đức Phật còn để lại.

Khó thay được làm người!

Khó thay được sống còn!

Khó thay nghe diệu pháp!

Khó thay Phật ra đời! (Dph.182)

Gặp được Phật Pháp là việc khó khăn, nó là cái không phải luôn hiện hữu ở mọi thời.


Nguyện cho tất cả được an vui🙏

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Thiền n Thiền Vipassanā


 Trước hết, thuật ngữ Pāḷi của từ “tham thiền” là Kammaṭṭhāna. Kammaṭṭhāna được giải thích là “Lãnh vực hay khu vực hành động” có nghĩa là nơi sanh khởi của việc hành thiền (Bhāvanā). “Kamma” = hành động và ở đây, có nghĩa là tham thiền (Bhāvanā), tức là sự phát triển tâm linh. Theo ý nghĩa đó thì Kammaṭṭhāna có nghĩa là đề mục hành thiền, chẳng hạn như hơi thở.

Có hai loại thiền trong Phật giáo:

1. Thiền chỉ (Samatha),

2. Thiền Minh sát (Vipassanā).

Thiền Minh sát (Vipassanā) là loại thiền đặc biệt của Phật giáo. Có nghĩa là chúng ta chỉ tìm thấy thiền Vipassanā trong Giáo Pháp của Đức Phật.

Thiền chỉ (Samatha) được tìm thấy ở cả trong những tư tưởng ở ngoài Phật giáo. Nghĩa là, những người thuộc tín ngưỡng khác ngoài Phật Giáo, họ vẫn có thể thực hành thiền chỉ và chứng đạt các tầng thiền định (Jhāna) và thậm chí cả những loại thần thông (Abhiññā). Thậm chí khi Đức Phật chưa đắc đạo, thiền chỉ đã được dạy thời đó. Chính Bồ Tát cũng đã học với 2 vị thầy ẩn sĩ lúc mới rời bỏ hoàng cung đi xuất gia và đắc những tầng thiền cao nhất.Từ “Samatha” được dịch là tĩnh lặng hay an định, có nghĩa là một cái gì đó làm cho một cái gì khác được an bình. Nó phát nguồn từ gốc từ “Sam” có nghĩa là trở nên an bình. Loại thiền này đưa tới sự an lạc, tĩnh lặng, đè nén phiền não nhưng không đưa đến phát triển trí tuệ.

Loại thiền thứ hai là thiền Minh sát.

 Vipassanā = vi + passanā

 Vi: đặc biệt, sâu sắc, lặp đi lặp lại

 passanā: là nhìn/quan sát. 

> Vipassana nghĩa là nhìn/quán sát một cách đặc biệt, sâu sắc, là "cái nhìn thấu suốt" hoặc "cái thấy đặc biệt", hay nhìn thấy theo nhiều cách khác nhau.

Đây là quá trình tự quan sát, rèn luyện tâm trí để nhận biết rõ ràng mọi sự vật đúng như bản chất, không có cái nhìn sai lệch do tà kiến, đức tin, tập quán, thói quen, tham, sân, si...

Mục đích: Thanh lọc tâm bằng cách loại bỏ các ô nhiễm (tham, sân, si) thông qua việc quan sát khách quan các hiện tượng trên thân và tâm mình. Từ đó phát triển được trí tuệ. Trí Tuệ sanh khởi thì vô minh đẩy lùi, chấm dứt khổ ưu. Tâm trí được giải thoát.

" Tuy nhiên, trong Giáo Pháp của Đức Phật, thiền chỉ tịnh (Samatha) vẫn được dạy bởi vì sự tĩnh lặng và an định mà nó mang đến tạo nên một nền tảng vững chắc cho sự thực hành thiền Minh sát.” (CMA, IX, Guide to §1, p.329). 

Đức Phật dạy thiền chỉ thật ra để dùng làm nền tảng cho thiền Minh sát. Các vị đệ tử có thể thực hành thiền chỉ và chứng đắc các tầng thiền, nhưng họ không nên dừng lại và thỏa mãn với sự chứng đắc các tầng thiền và các loại thần thông. Các vị phải lấy các tầng thiền làm đề mục thiền và tiếp tục thực hành thiền Minh Sát trên chúng.

Như vậy, cả hai loại thiền Chỉ và thiền Minh sát đều được dạy trong Phật giáo hay nói các cách khác, cả hai đều được chỉ dạy bởi Đức Phật.

(ref. TTĐ)

🙏

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2017

Giới thiệu về thiền minh sát Vipassana

Giới thiệu về thiền minh sát Vipassana

Thiền Vipassana (thiền minh sát tuệ) là một phương pháp tu đơn giản, thực tế mang lại kết quả là tâm an lạc và hướng đến một đời sống lợi lạc và hạnh phúc. Vipassana có nghĩa là " thấy mọi sự vật như thật bản chất của chúng ngay trong lúc quan sát" nó là một tiến trình logic của việc thanh lọc tâm qua phương cách tự quán chiếu (self- observation) .



Thiền Vipassana (thiền minh sát tuệ) là một phương pháp tu đơn giản, thực tế mang lại kết quả là tâm an lạc và hướng đến một đời sống lợi lạc và hạnh phúc. Vipassana có nghĩa là " thấy mọi sự vật như thật bản chất của chúng ngay trong lúc quan sát" nó là một tiến trình logic của việc thanh lọc tâm qua phương cách tự quán chiếu (self- observation) .

Trải qua tiến trình thời gian, chúng ta sẽ kinh nghiệm tất cả sự lo âu, sự trạo hối và sự bất hòa. Khi chúng ta khổ, chúng ta không giữ nỗi khổ trong tâm chúng ta; thay vì, chúng ta làm phiền đến người khác. Rõ ràng, đây không phải là phương cách thích hợp để sống. Tất cả chúng ta mong muốn sống trong an bình giữa chúng ta và mọi người xung quanh. Sau hết, con người là những người sống trong xã hội; chúng ta phải sống và ban giao với họ. Làm thế nào chúng ta có thể sống một đời sống an bình? Làm thế nào chúng ta có thể duy trì an hòa trong chúng ta, và duy trì hòa bình và hài hòa xung quanh chúng ta?
Vipassana có thể giúp chúng ta sống an lạc và hài hòa; nó làm thanh tịnh tâm, giải thoát tâm ra khỏi khổ đau và những nguyên nhân cội rễ của khổ đau. Hành trì, tuần tự dẫn đến mục đích thiêng liêng cao nhất của sự giải thoát hoàn toàn tất cả mọi ô nhiểm thuộc về tâm lý.


NGUỒN GỐC LỊCH SỬ

Vipassana là một trong những phương pháp thiền định xưa nhất của Ấn Độ. Nó được Đức phật Thích ca khám phá lại cách đây trên 2500 năm, và nó là phương pháp cốt lõi mà Đức phật đã tu tập và giảng dạy trong suốt 45năm hoằng hóa của ngài. Vào thời Đức phật , nhiều người sống vùng bắc Ấn Độ (ngày nay thuộc tiểu bang Biha và Uta Pradesh) dựa vào phương pháp tu tập Vipassana , đã thoát khỏi mọi trói buộc khổ đau trong đời và họ đã thành tựu ở những thứ bậc cao về sự chứng đạt trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Trải qua thời gian, phương pháp thiền vipassana đã lang truyền sang các nước láng giềng như Burma (Myanmar), Sri lanka (Tích lan), Thailand (Thái lan) và những nước khác, ở những nước này nguồn thiền cũng đã mang lại kết quả lợi ích lớn lao như ở Ấn độ.


Trải qua năm thế kỷ sau khi Đức phật niết bàn, giáo lý cao quí của nguồn thiền Vipassana đã biến mất khỏi Ấn Độ. Giáo lý nguyên thủy cũng không còn ở Ấn Độ. Tuy nhiên, ở Burma (Myanmar), nó được bảo tồn từ nhiều thế hệ của Các vị Thầy tận tâm bảo trì, từ thế hệ này sang thế hệ khác, trải qua hơn 2000 năm, dòng truyền trao tận tụy này(bởi các vị Thầy) đã chuyển trao phương pháp thiền định trong hình thức thuần túy nguyên thủy của nó.

Ở thời đại chúng ta, thiền Vipassana được giới thiệu trở lại Ấn Độ, cũng như những người dân từ hơn tám mươi quốc gia khác nhau, bởi Thiền sư S. N. Goenka . Thầy Goenka được Vị thầy nổi tiếng thiền Vipassana Myanmar(Sayagyi U Ba Khin) giao trọng trách dạy thiền Vipassana. Trước khi Ngài tịch vào năm 1971, Thầy Sayagyi đã chứng kiến một trong những mơ ước nhất (của Ngài) đã thành sự thật. Ngài đã mong ước sẽ đưa nguồn thiền Vipassana trở lại Ấn Độ, quê hương của nó, để Nó giúp mọi người giải trừ những khổ đau. Từ Ấn Độ, Thầy đã cảm nhận chắc chắn rằng rồi đây nó sẽ truyền bá rộng ra khắp thế giới vì lợi ích an lạc cho nhân loại.

Thầy Goenka đã bắt đầu hướng dẫn những khóa Vipassana ở Ấn Độ vào năm 1969; mười năm sau, Ngài cũng bắt đầu dạy thiền ở các quốc gia khác. Vào năm thứ 23 từ khi Ngài bắt đầu dạy, Thầy Goenka đã hướng dẫn trên 350 khóa 10 ngày về thiền Vipassana, vã đã đào tạo trên 120 Vị Thầy phụ tá, những vị Thầy này đã hướng dẫn trên 1200 khóa khắp mọi nơi trên thế giới.

Trong quá khứ, Ở Ấn Độ đặc biệt được xem như là một vị Thầy thế giới. Vào thời chúng ta, Chân lý phát nguồn từ lưu vực sông hằng(Giáo pháp Đức phật) một lần nữa đang tuông trào ra từ Ấn Độ đến những thế giới khát khao về nó.

PHƯƠNG CÁCH HÀNH TRÌ
Học thiền Vipassana, tốt nhất nên tham gia khóa mười ngày dưới sự hướng dẫn của một Vị thầy Kinh nghiệm. Trong thời gian hành trì, thiền sinh chỉ lưu trú trong khu vực của trung tâm tu thiền, không tiếp xúc môi trường ngoài khu vực trung tâm. Các thiền sinh không được đọc, viết và duy trì phương pháp tu tập của bất kỳ tôn giáo nào khác hoặc các giáo điều khác. Phải tuân theo mệnh lệnh của bản nội qui sinh hoạt hằng ngày gồm có mười tiếng ngồi thiền định. Phải hành trì tịnh khẩu , không nói chuyện với bạn đồng tu, tuy nhiên, thiền sinh tự do trình bày vấn đề thiền định với vị Thầy hướng dẫn và những vấn đề khác với ban quản lý.

Có ba bước cho việc hành trì. Bước một, thiền sinh từ bỏ các hành động có khả năng gây hại. Họ phải hành trì năm giới cấm: từ bỏ sát sanh, trộm cướp, nói láo , tà dâm và uống chất có hơi men. Sự hành trì năm giới cấm này là để cho tâm yên tĩnh thích hợp tiến hành công việc có lợi ích. Bước hai, trong 3 ngày rưởi đầu, thiền sinh hành trì thiền sổ tức (Anapana meditation) , sự tập trung vào hơi thở. Sự hành trì này giúp cho việc phát triển khả năng kiềm chế tâm tán loạn.

Hai bước đầu về cách sống thiện hành và phát triển sự kiềm chế tâm này rất cần thiết và có lợi nhưng chưa hoàn hảo trừ phi bước thứ ba được hành trì: thanh lọc tâm qua sự giảm thiểu hành vi bất thiện. Bước thứ ba được tiến hành trong 6 ngày rưởi còn lại, là sự hành trì Vipassana: chúng ta quán sát toàn bộ cơ cấu thân và tâm với trí tuệ sáng suốt.

Thiền sinh được hướng dẫn phương pháp thiền vài lần trong ngày, và tiến trình mỗi ngày được giảng qua băng video từ Goenkaji vào mỗi buổi tối. Sự im lặng tuyệt đối dành cho 9 ngày đầu. Vào ngày thứ 10, thiền sinh bắt đầu được phép nói chuyện , làm những việc trao đổi trong đời sống bình thường trở lại. Khóa thiền kết thúc vào buổi sáng ngày thứ 11. Khóa tu chấm dứt với sự thực hành từ tâm(metta-bhavana) hướng đến tất cả chúng sanh với ý nghiã sự thanh tịnh trong suốt khóa tu được chia xẻ với mọi chúng sanh.


MỘT PHƯƠNG PHÁP TU TẬP THUẦN TÚY

Mặc dù thiền Vipassana được bảo tồn trong truyền thống Phật giáo, nó không chứa đựng tính chất tông phái, và nó có thể được chấp nhận và áp dụng cho mọi người ở bất cứ nguồn gốc nào. Đức phật, chính ngài đã dạy giáo pháp (phương pháp, chân lý, con đường). Ngài không gọi chư vị Đệ tử của ngài là "Phật tử", Ngài xem họ như là "Pháp hữu" (những người hành theo chân lý). Phương pháp tu tập căn cứ vào nền tảng rằng tất cả chúng sanh có những vấn đề giống nhau , và một phương pháp thiết thực có thể xóa tan những vấn đề này có thể hành trì một cách phổ quát.

Những khóa thiền Vipassana được mở cho mọi người thành tâm muốn học phương pháp thiền, không phân biệt chủng tộc , giai cấp, tín đồ , quốc gia. Ấn Độ giáo, Kỳ na giáo, Hồi giáo, Sít giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo, Do thái giáo cũng như các Tu sĩ của các Tôn giáo khác tất cả đều tu tập thành công Vipassana. Bệnh tật thì phổ quát vì vậy, phương thuốc phải là phương thuốc phổ quát. Ví dụ, khi chúng ta sân giận , sân giận này không phải là sân giận Ấn Độ, sân giận Thiên chúa giáo, sân giận Trung hoa, hoặc sân giận Mỹ. Tương tự, tình thương, lòng từ bi không phải lãnh vực giới hạn của bất cứ cộng đồng nào hoặc niềm tin: chúng nó là đặc tính phổ quát con người kết qủa từ tâm thanh tịnh. Con người từ mọi nguồn gốc khi tu tập Vipassana mang lại kết quả rằng họ trở thành những con người tốt hơn.


MÔI TRƯỜNG THẾ GIỚI NGÀY NAY

Sự phát triển về các lãnh vực khoa học và kỹ thuật, trong sự vận chuyển, truyền thông, nông nghiệp và thuốc men, đã cải cách hóa đời sống con người ở cấp độ vật chất. Nhưng , trong thực tế, tiến trình này chỉ là hình thức nông cạn bên ngoài: dưới đáy, con người hiện đại đang sống trong những điều kiện căng thẳng về tinh thần và tình cảm, ngay cả ở các quốc gia đã phát triển và đang phát triển.

Các vấn đề và sự chống đối sinh khởi vì các thành kiến thuộc về chủng tộc, dân tộc, đảng phái, giai cấp ảnh hưởng đến nhân dân trong mọi quốc gia. Sự nghèo khổ, chiến tranh , vũ khí của vô số sự đoạn diệt, suy tàn, sự nghiện ngập, sự đe dọa của khủng bố, sự hủy diệt bệnh dịch môi trường và sự suy đồi chung về tất cả các giá trị đạo đức bao phủ bóng tối lên tương lại của nền văn minh. Chúng chỉ cần liếc qua trang đầu của các tờ nhật báo đã ghi lại nổi thống khổ và thất vọng tột cùng ảnh hưởng lên con người trên hành tinh của chúng ta.

Có phải có một phương pháp vượt ra khỏi những vấn đề dường như không thể giải quyết này? Câu trả lời rõ ràng là có. Tất cả trên thế giới ngày nay, những cơn gió thay đổi thật sự rõ ràng. Con người ở mọi nơi đang tha thiết tìm một phương pháp để có thể mang lại bình an và hài hòa; lập lại niềm tin về kết quả của những phẩm chất thiện lành con người;và tạo ra một môi trường tự do và an ổn ra khỏi mọi hình thức sự tận dụng kinh tế, tôn giáo, kinh tế. Thiền Vipassana có thể là phương pháp như vậy.


VIPASSANA VÀ SỰ CHUYỂN ĐỔI XÃ HỘI
Phương pháp tu thiền vipassana là con đường dẫn đến giải thoát mọi ràng buộc khổ đau; nó đoạn trừ tham, sân , si là nguyên nhân của mọi khổ đau. Hành giả vipassana tu tập để dời đi, một cách tuần tự, căn nguyên của khổ và thoát ly sự đen tối của những căng thẳng từ trước để dẫn đến cuộc sống sung túc, lành mạnh và hạnh phúc. Có nhiều thí dụ điển hình liên quan đến việc kiểm tra vấn đề này.


Một số các cuộc thí nghiệm được tiến hành ở các nhà tù ở Ấn Độ. Vào năm 1975, Goenkaji (Ngài Goenka) đã hướng dẫn một khóa tu thiền trở thành lịch sử cho 120 tù nhân ở tại nhà tù trung tâm (Central Jail) thuộc Jaipur (thủ phủ của Tiểu bang Rajasthan), lần đầu tiên cuộc thử nghiệm như vầy trong lịch sử hình phạt Ấn Độ. Sau khóa này vào năm 1976 một khóa khác cho các nhân viên cảnh sát cao cấp ở Truờng Huấn luyện cảnh sát chính phủ (the goverment police Academy) thuộc Jaipur. Vào năm 1977, một khóa thứ hai được tổ chức tại Nhà tù trung tâm Jaipur. Những khóa này đã là những chủ đề của các cuộc nghiên cứu xã hội được điều khiển do trường đại học Rajasthan tổ chức. Vào năm 1990, một khóa nữa được tổ chức tại Nhà tù trung tâm Jaipur trong đó có 40 trường hợp là tù nhân chung thân và 10 nhân viên nhà tù tham gia với kết quả rất mỹ mãn. Vào năm 1991, một khóa cho các tù nhân chung thân được tổ chức tại Nhà tù trung tâm Sabaramati thuộc Ahmedabad và đãlà chủ đề của chương trình nghiên cứu của Phân khoa Giáo dục của đại học Gujurat Viyapeeth. Những nnghiên cứu của Rajasthan và Ahmedabad đã đề cập đến những thay đổi rất khả quan về thái độ và cách cư xử ở những người tham gia, và cho rằng thiền Vipassana là một sự khả quan cải cách chuẩn mực có thể làm cho những tội phạm trở thành những con người tốt trong xã hội.

Sự nghiệp phục vụ dân chúng của Thầy Sayagyi U Ba Khin , vị Thầy thiền của Ngài Goenkaji, là một tấm gương của kết quả biến đổi của Vipássana ….. Sayagyi là Vị lãnh đạo của nhiều cơ quan nhà nước . Ngài đã thành công về sự thấm nhuần trách nhiệm, giới luật và đạo đức trong một ý nghĩa cao cả, và thành công trong việc dạy thiền Vipassana cho Các nhân viên nhà nước làm việc chung với Thầy. Vì vậy, hiệu quả đã tăng vượt bậc và sự suy đồi được loại trừ. Tương tự, tại cơ quan nội vụ của chính quyền Rajasthan, sau khi một số Viên chức nồng cốt tham gia các khóa Vipassana, các quyết định làm việc và các trường hợp bố trí được giải quyết nhanh chóng, và các mối quan hệ làm việc được phát triển.

Viện nghiên cứu thiền Vipassana đã chứng minh bằng tài liệu về những thí dụ khác về kết quả tích cực của ảnh hưởng thiền Vipassana như các lãnh vực sức khỏe, giáo dục, cai nghiện, và tổ chức kinh doanh.

Những kinh nghiệm này nhấn mạnh quan điểm rằng sự chuyển đổi xã hội phải bắt đầu bằng sự chuyển đổi cá nhân. Sự phát triển xã hội không thể được chứng minh chỉ bằng các bài giáo lý; giới luật và đạo đức của các sinh viên không thể được thắm nhuần chỉ một số bài giảng qua sách giáo khoa. Những tội phạm sẽ không trở thành công dân tốt vì sợ hãi hành phạt; sự bất hòa về giai cấp và đảng phái không thể được loại trừ bằng thước đo hình phạt. Lịch sử cho thấy nhiều sai lầm về cách làm như vầy.

Cá nhân là chìa khóa: anh ta hoặc cô ta phải đuợc cư xử với tình thương và lòng từ; anh ta phải được luyện tập để phát triển bản thân không phải bằng những sự khuyên bảo để làm theo các giới điều đạo đức, mà bằng được thấm nhuần với ước mong thành thật để chuyển đổi. Anh ta phải được dạy để khám phá chính mình, để tham gia một tiến trình có thể mang lại sự chuyển đổi, và dẫn đến sự thanh tịnh hóa về tâm. Đây là sự chuyển đổi duy nhất sẽ được duy trì.
Vipassana có khả năng chuyển đổi tâm tính con người. Cơ hội đang chờ đợi mọi người mong muốn nhiệt thành để nổ lực thực hành.

Người dịch: Thích Minh Diệu 
Nguồn: Thư viện Hoa Sen

chia sẻ sách pdf về thiền:
https://www.dropbox.com/home/S%C3%A1ch/Phat%20Hoc/ThienMinhsat




Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2016

NHỮNG THIÊN THẦN CHẮP CÁNH CHO THIÊN TÀI



Nguồn: Phan Viet Hung
(Mới đọc được trên mạng Nga một câu chuyện có thật này, xin dịch nhanh chia sẻ để chúng ta cùng biết trên Trái đất này, lòng tốt, tình bạn có thể làm được những điều tuyệt vời như thế nào)

Câu chuyện xảy ra ở một ngôi trường ở thủ đô Moskva, đầu thập niên 20.

Ngày nọ, các bạn nhỏ trong lớp không thấy bạn Liova đi học. Một tuần, rồi hai tuần trôi qua...Nhà Liova không có điện thoại, và theo lời khuyên của cô giáo chủ nhiệm, cả lớp đến nhà cậu bạn của mình xem tình hình ra sao.

Cô Tatyana Andreevna, mẹ của Liova ra mở cửa. Khuôn mặt cô hết sức buồn bã. Cả bọn liền nhao nhao hỏi:" Cô ơi, tại sao bạn Liova không đi học ạ?". Cô Tatyana đáp:

-Liova không thể đi học cùng các cháu được nữa. Các bác sĩ đã mổ mắt cho Liova nhưng không thành công. Liova đã bị mù và không thể tự đi được nữa, các cháu ạ.

Bọn trẻ nín lặng. Bỗng ai đó cất tiếng:

-Bọn cháu sẽ thay phiên nhau đưa bạn ấy đi học ạ.

Rồi cả bọn thay nhau nói:

-Chúng cháu đưa bạn ấy về nhà nữa.

-Bọn cháu sẽ giúp bạn ấy làm bài tập về nhà...

Người mẹ của Liova ứa nước mắt nhìn bọn trẻ. Cô đưa bọn trẻ vào phòng. Lát sau, Liova rờ rẫm bước ra, hai tay sờ soạng tìm đường. Mắt cậu băng kín mít. Thấy thế, đứa nào cũng sững người, có lẽ đến lúc này, chúng mới hiểu người bạn của mình đang gặp sự bất hạnh lớn lao đến nhường nào.

Liova cất tiếng nặng nhọc:"Chào các cậu!". Bọn trẻ liền nhao nhao:"Ngày mai tớ sẽ đến đưa cậu đi học", "Tớ sẽ giảng môn Đại số cho cậu", "Còn tớ, sẽ giúp cậu môn Lịch sử"....

Liova chả biết nghe lời bạn nào trước, cứ bối rối gật đầu Mẹ của cậu đầm đìa nước mắt khi chứng kiến cảnh đó.

Rời khỏi nhà Liova, cả lớp lên kế hoạch giúp đỡ người bạn không may của mình. Ai sẽ đến đón, ai đưa về, ai giảng lại môn nào cho bạn, ai sẽ đi dạo cùng Liova và đưa bạn ấy đến trường.

...Ở trường, cậu bạn ngồi cạnh Liova thường xuyên thì thào nói lại với cậu những gì thầy giáo viết trên bảng. Và rồi, mỗi khi Liova được gọi trả lời, cả lớp dường như nín thở. Cả lớp ai cũng vui mừng mỗi khi cậu đạt được điểm tốt (điểm 5 theo thang điểm Liên Xô), thậm chí còn vui hơn khi chính mình được điểm cao.

Liova học rất tốt. Cả lớp của Liova cũng học tốt dần lên. Là bởi vì, muốn giải thích, phụ đạo cho bạn, thì trước tiên phải nắm vững bài đã. Cả bọn ai cũng cố gắng. Mùa đông, các bạn còn đưa Liova đi trượt băng. Biết bạn mình yêu nhạc cổ điển, nhiều lúc cả lớp đi nghe hòa nhạc cùng cậu...

Liova tốt nghiệp phổ thông với bằng hạng ưu và học tiếp lên đại học. Ở đó, Liova có những người bạn mới, và họ lại tiếp tục giúp đỡ cậu (nguyên văn: họ trở thành đôi mắt của cậu). Sau khi tốt nghiệp đại học, Liova học dần lên, và cuối cùng, cậu bé mù ngày nào đã trở thành nhà toán học nổi tiếng thế giới, viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô Pontryagin.

Không phụ lòng tốt, lòng tin của những người bạn học tốt bụng của mình, Liova- Lev Semyonovich Pontryagin (1908-1988) đã trở nên một trong những nhà toán học, được đánh giá là vĩ đại nhất thế kỷ XX.

VIẾT THÊM:

Theo wiki, L.S.Pontryagin đã có những đóng góp lớn lao trong lĩnh vực hình học tôpô, (với đề xuất vấn đề cơ bản về lý thuyết đồng đều trong), đặt nền móng cho lý thuyết trừu tượng của biến đổi Fourier, mà ngày nay được gọi là tính đối ngẫu Pontryagin (mang tên ông).

Những nghiên cứu sau này của ông tập trung vào lý thuyết điều khiển tối ưu. Nguyên lý cực đại của ông là cơ sở cho lý thuyết tối ưu hiện đại.

L.S.Pontryagin đã được Nhà nước Liên Xô trao những giải thưởng danh giá: giải thưởng Stalin, giải thưởng Lenin, giải thưởng nhà nước Liên Xô, giải thưởng Lobachevsky, 4 lần nhận Huân chương Lenin và được nhận nhiều huân chương danh giá khác. Ông là Anh hùng lao động XHCN, Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô.

Ông là Phó chủ tịch Hội toán học quốc tế (1970-1974), thành viên danh dự Hội toán học London, viện sĩ danh dự Viện hàn lâm khoa học Hungary.

Ông có vợ, nhưng không có con.

"Lòng tốt, dân tộc nào, thời nào cũng có. Nền giáo dục và thực tế cuộc sống đã giúp khơi dậy lòng tốt đó"

Thứ Hai, 31 tháng 10, 2016

NHỮNG HIỂU LẦM VỀ ĐẠO PHẬT


Đạo Phật ngày càng suy đồi, tha hoá, “mạt pháp”, nguyên nhân thì nhiều, nhưng đôi khi vì trong giới tu sĩ và cư sĩ không trang bị đủ kiến thức của giáo pháp như thực - tức là giáo pháp cội rễ - mà chỉ chạy theo cành, nhánh, ngọn lắm hoa và nhiều trái. Từ đấy, khó phân biệt đâu là đạo Phật chân chánh, đâu là đạo Phật đã bị biến chất, chạy theo thị hiếu dung thường của thế gian. Đôi nơi đạo Phật còn bị trộn lẫn với tín ngưỡng duy linh và cả tín ngưỡng nhân gian nữa... Nhiều lắm, không kể xiết đâu.
Với cái nhìn “chủ quan” của một tu sĩ Theravāda, tôi xin mạo muội liệt kê ra đây những hiểu lầm tai hại và rất phổ biến của Phật giáo trong và ngoài nước để chư vị thức giả cùng thấy rõ như thực:
1 - Tôn giáo
Đạo Phật có những sinh hoạt về tôn giáo nhưng đạo Phật không phải là tôn giáo, vì đạo Phật không có một vị thượng đế tối cao hoá sinh muôn loài và có quyền ban thưởng, phạt ác.
2 - Tín ngưỡng: 
Đạo Phật có những sinh hoạt tín ngưỡng nhưng đạo Phật không phải là tín ngưỡng để mọi người đến van vái, cầu xin những ước mơ dung tục của đời thường.
3 - Triết học: 
Đạo Phật có một hệ thống tư tưởng được rút ra từ Kinh, Luật và Abhidhamma, được gọi là “như thực, như thị thuyết” chứ không phải là một bộ môn triết học “chia” rồi “chẻ”, “phán” rồi “đoán” như của Tây phương.
4 - Triết luận: 
Đạo Phật có tuệ giác để thấy rõ Cái Thực chứ không sử dụng lý trí phân tích, lý luận. Còn triết, còn luận là vì chưa thấy rõ Cái Thực. Đạo Phật là đạo như chơn, như thực. Kinh giáo của đức Phật luôn đi từ cái thực cụ thể để hướng dẫn mọi người tu tập, nó không có triết, có luận đâu. Ngay “thiền” mà còn “luận”(thiền luận) là đã đánh mất thiền rồi.
5 - Từ thiện xã hội: 
Đạo Phật có những sinh hoạt từ thiện xã hội nhưng không coi từ thiện xã hội là tất cả, để hy sinh cuộc đời đầu tròn, áo vuông một cách uổng phí. Đạo Phật còn có những sinh hoạt cao cả hơn: Đó là giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, tu tập thiền định và thiền tuệ nữa. Từ thiện xã hội thì ai cũng làm được, thậm chí người ta còn làm tốt hơn cả Phật giáo, ví dụ như Bill Gates. Còn giáo dục, văn hoá, nghệ thuật của đạo Phật là nền tảng Mỹ Học viết hoa (nội hàm các giá trị nhân văn, nhân bản) mà không một tôn giáo, môt chủ nghĩa, một học thuyết nào trên thế gian có thể so sánh được. Và đây mới là sự phụng hiến cao đẹp của đạo Phật cho thế gian. Còn nữa, nếu không có tu tập thiền định và thiền tuệ thì mọi hình thái sinh hoạt của đạo Phật, xem ra không phải là của đạo Phật đâu!
6 - Cực lạc, cực hạnh phúc: 
Đạo Phật có nói đến hỷ, lạc trong các tầng thiền; có nói đến hạnh phúc siêu thế khi ly thoát tham sân, khổ lạc (dukkha), phiền não của thế gian - chứ không có một nơi chốn cực lạc, cực hạnh phúc được phóng đại như thế.
7 - Tám vạn bốn ngàn pháp môn: 
Đạo Phật có nói đến 8 vạn 4 ngàn pháp uẩn (dhammakhandha) chứ không nói đến 8 van 4 ngàn pháp môn (dhammadvāra). Uẩn (khandha) ngoài nghĩa che lấp, che mờ và nghĩa chồng lên, chồng chất, còn có nghĩa là nhóm, liên kết, tập hợp ví như Giới uẩn (nhóm giới), Định uẩn (nhóm định), Tuệ uẩn (nhóm tuệ). Do từ uẩn (khandha) lại dịch lệch ra môn - cửa (dvāra), pháp môn nên ai cũng tưởng là có 8 vạn 4 ngàn pháp môn, tu theo pháp môn nào cũng được! Ai là người có thể đếm đủ 8 vạn, 4 ngàn cửa pháp này? Còn nữa, xin lưu ý, 8 vạn 4 ngàn chỉ là con số tượng trưng, có nghĩa là nhiều lắm, đếm không kể xiết theo truyền thống tôn giáo và tín ngưỡng Ấn Độ cổ. Ví dụ 84 ngàn lỗ chân lông, 84 ngàn vi trùng trong một bát nước, 84 ngàn phiền não, 84 ngàn cách tu...
8 - Xin xăm, bói quẻ, cầu sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu:
Những hình thức này không phải của đạo Phật. Trong kinh tụng Pāli có đoạn: “Sunakkhataṃ sumaṅgalaṃ supabhātaṃ suhuṭṭhitaṃ, sukhno ca suyiṭṭaṃ brahmacārisu. Padakkhinaṃ kāyakammaṃ vācākammaṃ padakkhinaṃ padakkhinaṃ manokammaṃ paṇidhī te padakkhinā...”
Có nghĩa là: Giờ nào (chúng ta) thực hành thân, khẩu, ý trong sạch; giờ đó được gọi là vận mệnh tốt, là giờ tốt, là khắc tốt, là canh tốt... Ngày đó gọi là có nghiệp thân phát đạt, nghiệp khẩu phát đạt, nghiệp ý phát đạt. Và nguyện vọng theo đó được gọi là nguyện vọng phát đạt. Người tạo nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý phát đạt như thế rồi sẽ được những lợi ích phát đạt (chữ phát đạt có thể có thêm nghĩa nhiêu ích).
9 - Định mệnh:
Đạo Phật có nói đến nghiệp, đến nhân quả nghiệp báo chứ không hề nói đến định mệnh. Theo đó, gây nhân xấu ác thì gặt quả đau khổ, gây nhân lành tốt thì gặt quả an vui - chứ không phải “cái tơ cái tóc cũng do trời định” như định mệnh thuyết của Khổng Nho hoặc định mệnh 4 giai cấp của Bà-la-môn giáo.
10 - Siêu độ, siêu thoát:
Không có bài kinh nào, không có uy lực của bất kỳ ông sư, ông thầy nào có thể tụng kinh siêu độ, siêu thoát cho hương linh, vong linh, chân linh cả. Thời Phật tại thế, nếu có đến nơi người mất, chư tăng chỉ đọc những bài kệ vô thường, khổ và vô ngã để thức tỉnh người sống; và hiện nay các nước Phật giáo Theravāda còn duy trì.
Có thể có hai trường hợp:
- Nếu vừa chết lâm sàng thì thần thức người chết vẫn còn. Vậy có thể đọc kinh, mở băng kinh, chuông mõ, hương trầm... để “thần thức người chết” hướng về điều lành... để thần thức tự tạo “cận tử nghiệp” tốt cho mình.
- Nếu thần thức đã lìa khỏi thân rồi – thì họ đã tái sanh vào cõi khác rồi, ngay tức khắc. Khi ấy thì gia đình làm phước để chư tăng tụng kinh hồi hướng phước ấy cho người đã mất.
Cả hai trường hợp trên đều không hề mang ý nghĩa siêu độ, siêu thoát mà chỉ có ý nghĩa gia hộ, gia niệm, gia lực mà thôi. Tu dựa vào tha lực cũng tương tự như vậy, nhưng cuối cùng cũng phải tự lực: “Tự mình thắp đuốc mà đi, tự mình là hòn đảo của chính mình”.
Chư thiên chỉ có khả năng hoan hỷ phước và báo truyền thông tin ấy cho người quá vãng mà thôi. Họ không có uy lực ban phước lành cho ai cả.
11 - Huyền bí, bí mật: 
Giáo pháp của đức Phật không có cái gì được gọi là huyền bí, bí mật cả. Đức Phật luôn tuyên bố là “Như Lai thuyết pháp với bàn tay mở ra”; có nghĩa là Ngài không có pháp nào bí mật để giấu kín cả!
12 - Tâm linh: 
Ngày nay, người ta tràn lan lễ hội, tràn lan mọi loại điện thờ với những hình thức mê tín, dị đoan, sa đọa văn hoá... mà ở đâu cũng rêu rao là các giá trị tâm linh. Đạo Phật không hề có các kiểu tâm linh như vậy. Thuật ngữ tâm linh này được du nhập từ Trung Quốc. Và rất tiếc, tôi không hề tìm ra nguồn Phật học Pāli hay Sanskrit có từ nào tương thích với chữ “linh” này cả!
13 - Niết-bàn:
Nhiều người tưởng lầm Niết-bàn là ở một cõi nào đó, một nơi chốn nào đó; thậm chí là ở một thế giới ở ngoài thế gian này. Người nào tìm kiếm Niết-bàn kiểu ấy, thuật ngữ thiền tông có cụm từ “lông rùa, sừng thỏ” như ngài Huệ Năng đã nói rõ:
“Phật pháp tại thế gian.
Bất lý thế gian giác.
Ly thế mịch bồ-đề.
Cáp như tầm thố giác”.
Thố giác là sừng thỏ. Và giác ngộ cũng vậy, chính ở trong khổ đau, phiền não mới giác ngộ bài học được.
14 - Bỏ khổ, tìm lạc: 
Tu Phật không phải là bỏ khổ, tìm lạc. Xin lưu ý cho: Khổ và Lạc chính là căn bản của phiền não!
15 - Tu để được cái gì! 
Có nhiều người nghĩ rằng, tu là để được cái gì đó. Xin thưa, được cái gì là sở đắc. Ai sở đắc? Chính là bản ngã sở đắc. Đạo Phật là vô ngã.
16 - Tu là sửa:
Nếu tu là sửa thì mình đã từ “cái ta này” biến thành “cái ta khác”. Nếu tu là không sửa thì cứ để nguyên trạng tham sân si như vậy hay sao? Xin thưa, sửa hay không sửa đều trật. Đạo Phật quan trọng ở Cái Thấy! Có Cái Thấy mới nói đến giác ngộ và giải thoát. Không có Cái Thấy này thì tu kiểu gì cũng trệch hướng hoặc rơi vào phước báu nhân thiên.
17 - Vía: Đạo Phật không có vía nào cả. Vía, hồn, phách là quan niệm của nhân gian. Ví dụ, ba hồn bảy vía. Ví dụ, nam thất, nữ cửu – nam bảy vía, nữ chín vía. Nếu là nam thất, nữ cửu thì nó trùng với nam 7 khiếu, nữ 9 khiếu. Vía là phần hồn. Không có cái hồn, cái linh hồn tự tồn tại nếu không có chỗ nương gá. Vía không độc lập được. Như danh (phần tâm) và sắc (phần thân) - chúng luôn nương tựa vào nhau. Chỉ có năng lực thiền định mới tạm thời tách lìa danh ra khỏi sắc, như cõi trời Vô tưởng của tứ thiền. Tuy nhiên, cõi trời Vô tưởng hữu tình này không phải là không có danh tâm mà chúng ở dạng tiềm miên. Còn các cõi trời Vô sắc thì sắc không phải là không có, chúng cũng ở dạng tiềm miên. Thật đáng phàn nàn, Phật và Bồ-tát đều có “vía” cả! Và cũng thật là“đau khổ” khi trong lễ an vị Phật, người ta còn hô “Thần nhập tượng” nữa chứ!
18 - Bồ-tát:
 Bồ-tát là âm của chữ Bodhisatta: Chúng sanh có trí tuệ. Vậy, chúng ta tạm thời bỏ quên “khái niệm Bồ-tát” quen thuộc trong kinh điển mà trở về với nghĩa gốc là “chúng sanh có trí tuệ”. Và như vậy, sẽ có hạng chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Thanh Văn; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Độc Giác; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Chánh Đẳng Giác. Ngoài 3 loại chúng sanh có trí tuệ trên – không có loại chúng sanh có trí tuệ nào khác.
19 - Phật: 
Phật là âm của chữ Buddha, nghĩa là Bậc đã Giác ngộ. Vậy chúng ta nên tạm thời bỏ quên “khái niệm Phật” từ lâu đã mọc rễ trong tâm thức mà trở về nghĩa gốc là Bậc Giác ngộ. Vậy người nào giác ngộ do nghe pháp từ bậc Chánh Đẳng Giác thì được gọi là Thanh Văn Giác, người nào giác ngộ do tự mình tu tập vào thời không có đức Chánh Đẳng Giác, được gọi là Độc Giác. Có vị giác ngộ do trọn vẹn 30 ba-la-mật, trọn vẹn minh và hạnh nên gọi là Chánh Đẳng Giác. Không có vị Giác ngộ (Phật) nào ngoài 3 loại Giác ngộ trên.
20 - Thể nhập:
Tu là không thể nhập vào cái gì cả. Thể nhập là bỏ cái ngã này để nhập vào cái ngã khác. Cái ngã khác ấy có thể là dòng sông, có thể là ngọn núi, có thể là một cội cây, có thể là một thần linh, thượng đế. Cái cụm từ “thể nhập pháp giới” rất dễ bị hiểu lầm. Khi đi phải chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái đi; Khi nói phải chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái nói; Khi ăn phải chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái ăn – thì đấy mới đúng nghĩa “thể nhập pháp giới”, ngay giây khắc ấy, mọi tham sân, phiền não không có chỗ để phân duyên, sanh khởi.
Ngoạ Tùng Am, Sơ Xuân 2015
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
(Tỳ khưu Giới Đức)

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2016

Vì sao ở hiền không gặp lành mà toàn đau khổ?

***** Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương ứng. Nếu một người trong nội tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm giác thống khổ *****

Tôi đã tìm một người thầy thông thái và đạo hạnh xin chỉ bảo:

- Vì sao những người lương thiện như con lại thường xuyên cảm thấy khổ, mà những người ác lại vẫn sống tốt như vậy

Thầy hiền hòa nhìn tôi trả lời:

- Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương ứng. Nếu một người trong nội tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm giác thống khổ. Vì thế, căn cứ theo đạo lý này, con thường cảm thấy khổ, nghĩa là nội tâm của con có tồn tại điều ác, con không phải là một người lương thiện thật sự. Mà những người con cho rằng là người ác, lại chưa hẳn là người thật sự ác.

Một người có thể vui vẻ mà sống, ít nhất nói rõ người này không phải là người ác thật sự.


Có cảm giác như bị xúc phạm, tôi không phục, liền nói:

- Con sao có thể là người ác được? Gần đây, tâm con rất lương thiện mà!

Thầy trả lời:

- Nội tâm không ác thì không cảm thấy khổ, con đã cảm thấy khổ, nghĩa là trong tâm con đang tồn tại điều ác. Con hãy nói về nỗi khổ của con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn tại trong con.

Tôi nói:

- Nỗi khổ của con thì rất nhiều! Có khi cảm thấy tiền lương thu nhập rất thấp, nhà ở cũng không đủ rộng, thường xuyên có “cảm giác thua thiệt” bởi vậy trong tâm con thường cảm thấy không thoải mái, cũng hy vọng mau chóng có thể cải biến tình trạng này; trong xã hội, không ít người căn bản không có văn hóa gì, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục; một trí thức văn hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu nhập, thật sự là không công bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái…

Cứ như vậy, lần lượt tôi kể hết với thầy những nỗi thống khổ của mình.

Thầy gật đầu, mỉm cười, một nụ cười rất nhân từ đôn hậu, người từ tốn nói với tôi:

Thu nhập hiện tại của con đã đủ nuôi sống chính con và gia đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn bản là đã không phải lưu lạc nơi đầu đường xó chợ, chỉ là diện tích hơi nhỏ một chút, con hoàn toàn có thể không phải chịu những khổ tâm ấy.

- Nhưng, bởi vì nội tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm, nếu con có thể vứt bỏ ác tâm ấy, con sẽ không vì những điều đó mà cảm thấy khổ nữa.

Trong xã hội có nhiều người thiếu văn hóa nhưng lại phát tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị cũng là một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn hóa, nên cần phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngạo mạn. Tâm ngạo mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn hóa thì phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngu si; bởi vì văn hóa không phải là căn nguyên của sự giàu có, kiếp trước làm việc thiện mới là nguyên nhân cho sự giàu có của kiếp này. Tâm ngu si cũng là ác tâm!

Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái, đây là không rộng lượng. Dẫu là người thân của con, nhưng họ vẫn có tư tưởng và quan điểm của riêng mình, tại sao lại cưỡng cầu tư tưởng và quan điểm của họ bắt phải giống như con? Không rộng lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi. Tâm hẹp hòi cũng là ác tâm.

Sư phụ tiếp tục mỉm cười:

- Lòng tham, tâm đố kỵ, ngạo mạn, ngu si, hẹp hòi, đều là những ác tâm. Bởi vì nội tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những thống khổ mới tồn tại trong con. Nếu con có thể loại trừ những ác tâm đó, những thống khổ kia sẽ tan thành mây khói.”

Con đem niềm vui và thỏa mãn của mình đặt lên tiền thu nhập và của cải, con hãy nghĩ lại xem, căn bản con sẽ không chết đói và chết cóng; những người giàu có kia, thật ra cũng chỉ là không chết đói và chết cóng. Con đã nhận ra chưa, con có hạnh phúc hay không, không dựa trên sự giàu có bên ngoài, mà dựa trên thái độ sống của con mới là quyết định. Nắm chắc từng giây phút của cuộc đời, sống với thái độ lạc quan, hòa ái, cần cù để thay thế lòng tham, tính đố kỵ và ích kỷ; nội tâm của con sẽ dần chuyển hóa, dần thay đổi để thanh thản và bình an hơn.

- Trong xã hội, nhiều người không có văn hóa nhưng lại giàu có, con hãy nên vì họ mà vui vẻ, nên cầu chúc họ càng giàu có hơn, càng có nhiều niềm vui hơn mới đúng. Người khác đạt được, phải vui như người đó chính là con; người khác mất đi, đừng cười trên nỗi đau của họ. Người như vậy mới được coi là người lương thiện! Còn con, giờ thấy người khác giàu con lại thiếu vui, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị chính là một loại tâm rất không tốt, phải kiên quyết tiêu trừ!”

Con cho rằng, con có chỗ hơn người, tự cho là giỏi. Đây chính là tâm ngạo mạn. Có câu nói rằng: “Ngạo mạn cao sơn, bất sinh đức thủy” (nghĩa là: ngọn núi cao mà ngạo mạn, sẽ không tạo nên loại nước tốt) người khi đã sinh lòng ngạo mạn, thì đối với thiếu sót của bản thân sẽ như có mắt mà không tròng, vì vậy, không thể nhìn thấy bản thân có bao nhiêu ác tâm, sao có thể thay đổi để tốt hơn. Cho nên, người ngạo mạn sẽ tự mình đóng cửa chặn đứng sự tiến bộ của mình. Ngoài ra, người ngạo mạn sẽ thường cảm thấy mất mát, dần dần sẽ chuyển thành tự ti. Một người chỉ có thể nuôi dưỡng lòng khiêm tốn, luôn bảo trì tâm thái hòa ái từ bi, nội tâm mới có thể cảm thấy tròn đầy và an vui.

- Kiếp trước làm việc thiện mới chính là nguyên nhân cho sự giàu có ở kiếp này, (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu). Mà người thường không hiểu được nhân quả, trồng dưa lại muốn được đậu, trồng đậu lại muốn được dưa, đây là thể hiện của sự ngu muội. Chỉ có người chăm học Phật Pháp, mới có được trí huệ chân chính, mới thật sự hiểu được nhân quả, quy luật tuần hoàn của vạn vật trong vũ trụ, nội tâm mới có thể minh tỏ thấu triệt. Để từ đó, biết làm thế nào lựa chọn tư tưởng, hành vi và lời nói của mình cho phù hợp. Người như vậy, mới có thể theo ánh sáng hướng đến ánh sáng, từ yên vui hướng đến yên vui.”

- Bầu trời có thể bao dung hết thảy, nên rộng lớn vô biên, ung dung tự tại; mặt đất có thể chịu đựng hết thảy, nên tràn đầy sự sống, vạn vật đâm chồi! Một người sống trong thế giới này, không nên tùy tiện xem thường hành vi và lời nói của người khác. Dẫu là người thân, cũng không nên mang tâm cưỡng cầu, cần phải tùy duyên tự tại! Vĩnh viễn dùng tâm lương thiện giúp đỡ người khác, nhưng không nên cưỡng cầu điều gì.

- Nếu tâm một người có thể rộng lớn như bầu trời mà bao dung vạn vật, người đó sao có thể khổ đây?

Vị thầy khả kính nói xong những điều này, tiếp tục nhìn tôi với ánh mắt đầy nhân từ và bao dung độ lượng.

Ngồi im lặng hồi lâu…xưa nay tôi vẫn cho mình là một người rất lương thiện, mãi đến lúc này, phải! chỉ đến lúc này, tôi mới biết được trong tôi còn có một con người rất xấu xa, rất độc ác! Bởi vì nội tâm của tôi chứa những điều ác, nên tôi mới cảm thấy nhiều đau khổ đến thế. Nếu nội tâm của tôi không ác, sao tôi có thể khổ chứ ?

Xin cảm tạ thầy, nếu không được người khai thị dạy bảo, con vĩnh viễn sẽ không biết có một người xấu xa như vậy đang tồn tại trong con!

(st)

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016

ĂN CHAY - ĂN MẶN TRONG ĐẠO PHẬT


#ChiasẻPháp: Liên quan đến ĂN CHAY ĂN MẶN

********************************************

Vị y sĩ hỏi Ðức Phật về thái độ của Ngài đối với việc sát sinh và cách dùng thực phẩm toàn rau quả (trường trai):

- "Bạch Thế tôn! Con nghe nói rằng nhiều súc vật bị giết vì Ngài, và Ngài dùng món thịt đặc biệt dành để cúng dường Ngài, có đúng vậy chăng?

- Nầy Jìvaka! Bất cứ ai nói như vậy là không nói sự thật. Ðúng ra, Ta nói rằng thịt không được nhận làm món khất thực trong 3 trường hợp nếu ta thấy, nghe và nghi ( con vật ấy bị giết vì vị Tỳ kheo nầy) song nếu không phải các trường hợp trên thì vị Tỳ kheo có thể thọ dụng món thịt.

Nếu một vị Tỳ kheo đi khất thực trong thôn xóm hay thị trấn với tâm từ (Mettà) biến mãn khắp mọi chúng sanh và một gia chủ mời vị ấy thọ thực ngày mai, vị ấy có thể nhận lời. Nhưng trong lúc vị ấy đang thọ thực ngày hôm sau tại nhà kia, vị ấy không nên nghĩ là vẫn ước mong được mời một bữa cao lương mỹ vị như vậy thêm lần nữa. Vị ấy nên thọ dụng món khất thực mà không tham đắm lạc thú ẩm thực. Nầy Jìvaka! Ông có nghĩ rằng một Tỳ kheo làm như vậy là tự hại mình và hại người khác không?

- Thưa không, bạch Thế tôn!

- Nầy Jìvaka! Nếu ông nói đến sự cố ý tận diệt của Ta thì điều đó chỉ đúng theo ý nghĩa duy nhất nầy: "Ta đã đoạn diệt tham, sân, si ở trong Ta khiến cho chúng không thể sanh khởi được nữa trong tương lai. Bất cứ kẻ nào sát sanh vì Ta hay một đệ tử của Ta sẽ phạm một ác nghiệp gồm có 5 phần, đó là dẫn con vật đi. hành hạ nó (lúc lôi kéo), giết chết nó và do vậy hành hạ nó thêm lần nữa và cuối cùng là cúng dường Ta và đệ tử Ta không đúng chánh pháp". (lược thuật Trung bộ số 55, kinh Jìvaka, HT Thích Minh Châu dịch)

********************************************

Phật nói về "thức ăn hôi thối" thức đồ ăn không thanh tịnh, không sạch, người đời thường đánh đồng là "ăn mặn". Hãy đọc kỹ bài kệ này.
---
Thức ăn hôi thối

Sát sanh và hành hình,
Ðả thương và bắt trói,
Trộm cắp và nói láo,
Man trá và lừa đảo,
Giả bộ kẻ học thức,
Ði lại với vợ người,
Ðây là đồ ăn thối,
Ăn thịt không phải thối.

Ở đời, các hạng người,
Không chế ngự lòng dục,
Ðam mê các vị ngon,
Liên hệ đến bất tịnh,
Theo chủ nghĩa hư vô,
Bất chánh khó hướng dẫn,
Ðây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối.

Ai thô bạo, dã man,
Sau lưng nói gièm pha,
Phản bạn không từ bi,
Lại cống cao ngạo mạn,
Tánh không có bố thí,
Không cho ai vật gì,
Ðây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối,

Phẫn nộ và kiêu mạn,
Cứng đầu và chống đối
Man trá và tật đố,
Nói vô ích, huênh hoang,
Kiêu mạn và quá mạn,
Thân mật với kẻ ác,
Ðây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối,

Ác giới, nợ không trả,
Làm người điểm chỉ viên,
Làm những nghề dối trá,
Ở đây, kẻ giả vờ,
Ở đây người bần tiện,
Những người làm ác nghiệp,
Ðây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối.

Ở đời, các hạng người,
Không chế ngự lòng dục,
Ðam mê các vị ngon,
Liên hệ đến bất tịnh,
Theo chủ nghĩa hư vô,
Bất chánh khó hướng dẫn,
Ðây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối.

Hạng tham ô, thù nghịch,
Tìm cách để giết hại,
Luôn luôn hướng về ác,
Sau chết sanh tối tăm,
Chúng sanh ấy rơi vào,
Ðịa ngục đầu xuống trước.
Ðây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối.

(Tiểu bộ kinh 1. Chương 2 - Tiểu Phẩm. Kinh hôi thối (Amagandha))
********************************************

Phật không nói về ăn chay nhưng Phật thuyết về ăn uống tiết độ:

Ăn Uống Tiết độ:

Con người thường chánh niệm,
Ðược ăn, biết phải chăng,
Chừng mực, cảm thọ mạnh,
Già chậm, tuổi thọ dài.
(Bài kệ này Đức Phật nói với đức vua Pasenadi của vương quốc Kosala, do vị vua này bị thói ăn uống vô độ làm cho khổ sở)
********************************************

Thế nào là TIẾT CHẾ ĂN UỐNG:

"Chúng ta phải biết tiết độ trong ăn uống, với chánh tư duy, chúng ta thọ thực (ăn), không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy chúng ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, và chúng ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: "Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh và các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa". Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

Đức Thế Tôn nói kệ:
Người ưa ngủ, ăn lớn,
Nằm lăn lóc qua lại,
Chẳng khác heo no bụng,
Kẻ ngu nhập thai mãi.

********************************************

Và tại sao các Đức Phật đều chọn nghề Khất thực để nuôi mạng sống?
Nghề Khất thực: (Tung Uong Tap 3-22d)
18) Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:

-- Này các Tỷ-kheo, đây là nghề sinh sống hèn hạ nhất, tức là nghề khất thực. Ðây là một lời nguyền rủa trong đời, này các Tỷ-kheo, khi nói: "Ông, kẻ khất thực với bát trên bàn tay, Ông đi chỗ này, chỗ kia và đấy là nghề sinh sống". Này các Tỷ-kheo, điều mà các thiện gia nam tử chấp nhận là những vị sống vì lý tưởng mục đích, duyên với lý tưởng mục đích; không phải vì ma cưỡng ép, không phải vì trộm cướp cưỡng ép, không phải vì thiếu nợ, không phải vì sợ hãi, không phải vì không có nguồn sinh sống, mà với ý nghĩ: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị chìm đắm trong đau khổ, bị đoanh vây bởi đau khổ. Rất có thể, sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này được tìm ra".

>>> Các vị khất sỹ xưa, chỉ ăn ngày 1 bữa và không quá Ngọ, nếu qua ngọ mà không khất thực được đồ ăn thì chấp nhận nhịn đói hôm đó.

Ngoài ra, theo mình khi đi khất thực cũng là duyên lành để cho chúng sanh có dịp tạo phước cho mình. Các vị Tỷ kheo giữ giới nghiêm ngặt, hay các vị Arahat hay Tối Thượng là Đức Phật được ví như "Phước Điền vô thượng ở đời". (mình sẽ tổng hợp vấn đề này sau)

********************************************
Ai có kiến thức về nông nghiệp, ai đã từng đi cuốc đất trồng rau trồng lạc hay không xa rời tự nhiên, thì bạn sẽ hiểu để có đồ ăn chay sẽ không có chuyện không sát sinh, bạn ăn không thấy thịt, không tự tay giết chóc, nhưng bản thân sự gieo cấy, đã có cả 1 loạt sự sát sinh rồi, chỉ có điều bạn không đi đến tận cùng nguồn gốc của thức ăn thôi. Vì sao có mùa an cư kiết hạ 3 tháng?

Ăn chay thì dễ, cả một tuổi thơ mình đã ăn :) nhưng ăn ít, ngày 1 bữa và tiết độ như một thiền sinh thì thật khó khăn. Thay vì ăn chay thường xuyên, hãy học cách ăn trong chánh niệm. Ý thức được nhu cầu thực sự của mình; học cách phân biệt giữa muốn và cần. Đào luyện cơ thể không phải là tự hành hạ mình. Bớt ngủ, bớt ăn đôi lúc có vẻ cực đoan, nhưng nó có giá trị của nó. Bạn phải thực sự muốn chống lại sự biếng nhác và phiền não.

Nếu ăn chay và ăn không cầu kỳ, ăn đủ thì càng tốt. Nhưng mình thì theo hướng ăn uống đơn giản nhất và tiện lợi nhất là được.

Mình đã thôi ăn tối hơn 1 năm rồi, gần như chỉ có bữa trưa là ăn bình thường, tất nhiên là không cực đoan, lúc nào vì công việc, bạn bè gặp gỡ, hay về nhà cùng bố mẹ, mình vẫn ăn uống bình thường, không gây phiền muộn lo lắng cho người khác. Một cách thanh lọc cơ thể rất tốt.

********************************************
Giới thiệu 2 bài kệ ngắn, có thể giúp bạn ít nhiều cái thói thèm ăn, ăn vô độ:

Thời vua Lương Võ Đế có Hòa Thượng Chí Công, vốn là một vị cao tăng đã đắc Ngũ nhãn Lục thông, tiền nhân hậu quả nhất nhất đều biết rõ ràng. Lần nọ, có một gia đình hào phú tổ chức tiệc cưới cho con và thỉnh Hòa Thượng Chí Công đến tụng kinh. Bấy giờ, Hòa Thượng vừa đặt chân đến ngạch cửa đã than rằng:

“Lạ lạ thay! Quái quái kỳ!
Đứa cháu cưới bà nội,
Heo dê ngồi bàn tiệc,
Quyến thuộc nấu trong nồi.
Con gái ăn thịt mẹ,
Con trai đánh da cha.
Khách khứa đến chúc mừng,
Ta thấy thật là khổ!”

Khi con người còn vô minh thì sẽ không tin điều này đâu, nhưng hãy suy niệm hãy tự mình tìm lấy câu trả lời. Điều này không vô lý, cũng không phải là một sự dọa dẫm, chỉ đơn giản, ta chưa đến đc tầm hiểu biết đó.

********************************************
Ngàn năm oán hận ngập bát canh,
Oán sâu như biển hận khó tan.
Muốn biết vì sao có chiến tranh,
Hãy nghe lò thịt, lúc nửa đêm!

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

Ba Câu Hỏi -3 Questions


LEO TOLSTOY

Ba Câu Hỏi
Thích Nhất Hạnh dịch
********

Ðó là chuyện ba câu hỏi khó của một nhà vua, do nhà văn hào Leo Tolstoy kể lại.

Nhà vua ấy, Tolstoy không biết tên. Một hôm đức Vua nghĩ rằng, giá mà vua trả lời được ba câu hỏi ấy thì vua sẽ không bao giờ bị thất bại trong bất cứ công việc nào. Ba câu hỏi ấy là:

1. Làm sao để biết được thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc?

2. Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật quan trọng nhất mà ta phải chú trọng?

3. Làm sao để biết được công việc nào là công việc cần thiết nhất mà ta phải thực hiện?

Nghĩ thế, vua liền ban chiếu ra khắp trong bàn dân thiên hạ, hứa rằng sẽ ban thưởng trọng hậu cho kẻ nào trả lời được những câu hỏi đó.

Các bậc hiền nhân đọc chiếu liền tìm tới kinh đô. Nhưng mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời khác nhau.

Về câu hỏi thứ nhất, có người trả lời rằng muốn biết thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc thì phải làm thời biểu cho đàng hoàng, có ngày giờ năm tháng và phải thi hành cho thật đúng thời biểu ấy. Như vậy mới mong công việc làm đúng lúc. Kẻ khác thì lại nói không thể nào dự tính được trước những việc gì phải làm và thời gian để làm những việc ấy; rằng ta không nên ham vui mà nên chú ý đến mọi sự khi chúng xẩy tới để có thể làm bất cứ gì xét ra cần thiết.

Có kẻ lại nói rằng, dù vua có chú ý đến tình hình mấy đi nữa thì một mình vua cũng không đủ sáng suốt để định đoạt thời gian của mọi việc làm một cách sáng suốt, do đó nhà vua phải thành lập một Hội Ðồng Nhân Sĩ và hành động theo lời khuyến cáo của họ.

Lại có kẻ nói rằng, có những công việc cần phải lấy quyết định tức khắc không thể nào có thì giờ để tham khảo xem đã đến lúc phải làm hay chưa đến lúc phải làm. Mà muốn lấy quyết định cho đúng thì phải biết trước những gì sẽ xẩy ra, do đó, nhà vua cần phải cần đến những nhà cố vấn tiên tri và bốc phệ.

Về câu hỏi thứ hai, cũng có nhiều câu trả lời không giống nhau. Có người nói những nhân vật mà vua cần chú ý nhất là những ông đại thần và những người trong triều đình. Có người nói là mấy ông Giám Mục, Thượng Tọa là quan hệ hơn hết. Có người nói là mấy ông tướng lãnh trong quân đội là quan hệ hơn hết.

Về câu hỏi thứ ba, các nhà thức giả cũng trả lời khác nhau. Có người nói khoa học là quan trọng nhất. Có người nói tôn giáo là quan trọng nhất. Có người lại nói: chỉnh trang quân đội là quan trọng nhất.

Vì các câu trả lời khác nhau cho nên nhà vua không thể đồng ý với vị hiền nhân nào cả, và chẳng ban thưởng cho ai hết.

Sau nhiều đêm suy nghĩ vua quyết định đi chất vấn một ông đạo tu trên núi, ông đạo này nổi tiếng là có giác ngộ. Vua muốn tìm lên trên núi để gặp ông đạo và hỏi ba câu hỏi kia.

Vị đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi ông ta ở chỉ có những người dân nghèo; chẳng bao giờ ông chịu tiếp người quyền quý. Vì vậy mà nhà vua cải trang làm thường dân. Khi đi đến chân núi, vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới, và một mình vua, trong y phục một thường dân, vua trèo lên am của ông đạo.

Nhà vua gặp ông đạo đang cuốc đất trước am. Khi trông thấy người lạ, ông đạo gật đầu chào rồi tiếp tục cuốc đất. Ông đạo cuốc đất một cách nặng nhọc bởi ông đã già yếu; mỗi khi cuốc lên được một tảng đất hoặc lật ngược được tảng đất ra thì ông lại thở hào hển.

Nhà vua tới gần ông đạo và nói: "Tôi tới đây để xin ông đạo trả lời giúp cho tôi ba câu hỏi. Làm thế nào để biết đúng thì giờ hành động, đừng để cho cơ hội qua rồi sau phải hối tiếc? Ai là những người quan trọng nhất mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả? Và công việc nào quan trọng nhất cần thực hiện trước tiên?"

Ông đạo lắng nghe nhà vua nhưng không trả lời. Ông chỉ vỗ vai nhà vua và cúi xuống tiếp tục cuốc đất.

Nhà vua nói: "Ông đạo mệt lắm rồi, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc một lát". Vị đạo sĩ cám ơn và trao cuốc cho Vua rồi ngồi xuống đất nghỉ mệt. Cuốc xong được hai vồng đất thì nhà vua ngừng tay và lập lại câu hỏi. Ông đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy và đưa tay ra đòi cuốc, miệng nói: "Bây giờ bác phải nghỉ, đến phiên tôi cuốc". Nhưng nhà vua thay vì trao cuốc lại cúi xuống tiếp tục cuốc đất.

Một giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua. Rồi mặt trời bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay, buông cuốc, và nói với ông đạo:

"Tôi tới để xin ông đạo trả lời cho mấy câu hỏi. Nếu ông đạo không thể trả lời cho tôi câu nào hết thì xin cho biết để tôi còn về nhà".

Ông đạo nghe tiếng chân người chạy đâu đây bèn nói với nhà vua: "Bác thử xem có ai chạy lên kìa". Nhà vua ngó ra thì thấy một người có râu dài đang chạy lúp xúp sau mấy bụi cây, hai tay ôm bụng. Máu chảy ướt đầm cả hai tay. Ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu giữa đất, nằm im bất động miệng rên ri rỉ.

Vua và ông đạo cởi áo người đó ra thì thấy có một vết đâm sâu nơi bụng. Vua rửa chỗ bị thương thật sạch và xé áo của mình ra băng bó vết thương, nhưng máu thấm ướt cả áo. Vua giặt áo và đem băng lại vết thương. Cứ như thế cho đến khi máu ngừng chảy.

Lúc bấy giờ người bị thương mới tỉnh dậy và đòi uống nước. Vua chạy đi múc nước suối cho ông ta uống. Khi đó mặt trời đã bắt đầu khuất và bắt đầu lạnh. Nhờ sự tiếp tay của ông đạo, nhà vua khiêng người bị nạn vào trong am và đặt nằm trên giường ông đạo. Ông ta nhắm mắt nằm yên. Nhà vua cũng mệt quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi dựa vào cánh cửa và ngủ thiếp đi. Vua ngủ ngon cho đến nỗi khi Vua thức dậy thì trời đã sáng và phải một lúc sau Vua mới nhớ ra được mình đang ở đâu và đang làm gì. Vua nhìn về phía giường thì thấy người bị thương cũng đang nhìn mình chòng chọc, hai mắt sáng trưng.

Người đó thấy vua tỉnh giấc rồi và đang nhìn mình thì nói, giọng rất yếu ớt:

"Xin bệ hạ tha tội cho thần".

"Ông có làm gì nên tội đâu mà phải tha?"

"Bệ hạ không biết hạ thần, nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người thù của bệ hạ, Hạ thần đã thề sẽ giết bệ hạ cho bằng được bởi vì khi xưa, trong chinh chiến bệ hạ đã giết mất người anh của hạ thần và còn tịch thu gia sản của hạ thần nữa".

"Hạ thần biết rằng bệ hạ sẽ lên núi này một mình để gặp ông đạo sĩ, nên đã mai phục quyết tâm giết bệ hạ trên con đường về. Nhưng cho đến tối mà bệ hạ vẫn chưa trở xuống, nên hạ thần đã rời chỗ mai phục mà đi lên núi tìm bệ hạ để hành thích. Thay vì gặp bệ hạ, hạ thần lại gặp bốn vệ sĩ. Bọn nầy nhận mặt được hạ thần cho nên đã xông lại đâm hạ thần. Hạ thần trốn được chạy lên đây, nhưng nếu không có bệ hạ cứu thì chắc chắn hạ thần đã chết vì máu ra nhiều quá. Hạ thần quyết tâm hành thích bệ hạ mà bệ hạ lại cứu sống được hạ thần. Hạ thần hối hận quá. Bây giờ đây nếu hạ thần mà sống được thì hạ thần nguyện sẽ làm tôi mọi cho bệ hạ suốt đời, và hạ thần cũng sẽ bắt các con của hạ thần làm như vậy. Xin bệ hạ tha tội cho hạ thần".

Thấy mình hòa giải được với kẻ thù một cách dễ dàng nhà vua rất vui mừng. Vua không những tha tội cho người kia mà còn hứa sẽ trả lại gia sản cho ông ta, và gửi ngự y cùng quân hầu tới săn sóc cho ông ta lành bệnh.

Sau khi cho vệ sĩ khiêng người bị thương về nhà, vua trở lên tìm ông đạo để chào. Trước khi ra về vua còn lặp lại lần cuối ba câu hỏi của vua. Ông đạo đang quỳ gối xuống đất gieo những hạt đậu trên những luống đất đã cuốc sẵn hôm qua.

Vị đạo sĩ đứng dậy nhìn vua: "Nhưng ba câu hỏi của vua đã được trả lời rồi mà".

Vua hỏi: "trả lời bao giờ đâu nào?"

"Hôm qua nếu Vua không thương hại bần đạo già yếu mà ra tay cuốc dùm mấy luống đất này thì khi ra về nhà vua đã bị kẻ kia mai phục hành thích mất rồi, và nhà Vua sẽ tiếc rằng đã không ở lại cùng ta. Vì vậy thời gian quan trọng nhất là thời gian Vua đang cuốc đất; nhân vật quan trọng nhất lúc đó là bần đạo đây, và công việc quan trọng nhất là công việc giúp bần đạo. Rồi sau đó khi người bị thương nọ chạy lên, thời gian quan trọng nhất là thời gian vua chăm sóc cho ông ta, bởi vì nếu vua không băng vết thương cho ổng thì ổng sẽ chết và vua không có dịp hòa giải với ổng; cũng vì thế mà ông ta là nhân vật quan trọng nhất, và công việc vua làm để băng bó vết thương là quan trọng nhất. Xin vua hãy nhớ kỹ điều này: "chỉ có một thời gian quan trọng mà thôi, đó là thời gian hiện tại, là giờ phút hiện tại. Giờ phút hiện tại quan trọng bởi vì đó là thời gian duy nhất trong đó ta có thể làm chủ được ta. Và nhân vật quan trọng nhất là kẻ đang cụ thể sống với ta, đang đứng trước mặt ta, bởi vì ai biết được là mình sẽ đương đầu làm việc với những kẻ nào trong tương lai. Công việc quan trọng nhất là công việc làm cho người đang cụ thể sống bên ta, đang đứng trước mặt ta được hạnh phúc, bởi vì đó là ý nghĩa chính của đời sống.



(Trích từ Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức - TNH )

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2016

TÍNH CÁCH NGA - Alexei Tolstoy


Tính cách Nga! Cái nhan đề đó quả là quá lớn đối với một truyện ngắn. Nhưng biết làm sao, khi chính tôi lại muốn nói với anh về tính cách Nga.Tính cách Nga! Thật là khó mà khắc hoạ nổi… Kể về các chiến công anh hùng chăng? Nhưng những chiến công như vậy nhiều tới mức khiến tôi lúng túng - chẳng biết sẽ kể về chiến công nào. May sao một câu chuyện không dài lắm trong đời tư của một người tôi quen đã giúp tôi thoát khỏi thế bí. Tôi sẽ không kể chuyện anh ta đã chiến đấu với bọn phát xít như thế nào, mặc dù trên ngực anh lấp lánh những huân chương, trong đó có cả một huân chương sao vàng. Đó là một con người giản dị, trầm lặng, bình thường, nông trang viên của một làng ở lưu vực sông Vonga thuộc tỉnh Xaratốp. Nhưng so với những người khác, anh là người có thân hình lực lưỡng, cân đối và điển trai. Những khi nhô đấu lên khỏi tháp pháo xe tăng, người ta mê mải ngắm nhìn anh, đúng là một chiến thần!.

Anh nhẩy từ trên tháp pháo xe tăng xuống, tháo chiếc mũ công tác khỏi mái tóc quăn đẫm mồ hôi, lấy vạt áo rách lau bộ mặt lem luốc và thế nào cũng mỉm cười khoan khoái.

Trong chiến tranh, con người luôn gần kề cái chết,người ta trở nên tốt đẹp hơn, những điểu nhỏ nhặt vặt vãnh đều bong tuột đi như những lớp da bị rộp lên sau khi tắm nắng, và con người chỉ còn lại cái phần hạt nhân cốt lõi. Lẽ cố nhiên, ở người này cái hạt nhân rắn chắc hơn và ở người kia thì mềm nhược hơn, nhưng ngay cả ở những người hạt nhân có khuyết tật cũng đều cố gắng vươn lên và ai cũng muốn trở thành người tốt và đáng tin cậy. Anh bạn mà tôi quen, Êgô Đrêmốp, thì ngay trước lúc chiến tranh đã là người biết xử sự nghiêm túc, hết lòng yêu kính bà mẹ Maria Pôlicácpốpna và người cha Êgô Êgôrôvích: “Cha tôi là người đúng mực, và trước hết ông là một người biết tự trọng.” “Con ạ - ông nói - rồi con sẽ nhìn thấy nhiều điều trong cuộc đời, rồi con sẽ đi cả nước ngoài nữa, nhưng con hãy tự hào được là người Nga…”.

Cô bạn gái của anh cũng là người cùng làng trên bờ sông Vônga. Ở chỗ chúng tôi, người ta thường trò chuyện rất nhiều về người yêu, vợ con, đặc biệt là những phút im tiếng súng ngoài mặt trận, lúc trời lạnh giá và ngồi dưới hầm ăn bữa tối bên ngọn đèn dầu, bên bếp củi cháy lách tách. Lúc ấy thôi thì đủ chuyện - ai cũng phải giỏng tai lên mà nghe. Chẳng hạn: “tình yêu là gì?” Một người lên tiếng: “Tình yêu nảy nở từ sự kính trọng…”. Người thứ hai bác lại: “Không phải thế, tình yêu là một thói quen, người ta không chỉ yêu vợ, mà còn yêu cả bố mẹ, thậm chí cả các con vật nữa…” - “Chà, thật là ngớ ngẩn! - người thứ ba tiếp lời - tình yêu đấy là khi cậu cảm thấy mọi thứ trong người sôi sục, là khi con người chuếnh choáng hơi men…” Và mọi người cứ triết lý như thế hàng giờ, cho mãi tới khi đồng chí chuẩn uý, với giọng gấn như ra lệnh, phải can thiệp, mà cũng chẳng thể xác định thực chất của vấn đề… Hẳn là Êgo Đrêmốp, bẽn lẽn thẹn thùng về những chuyện ấy, anh chỉ nhắc qua với tôi về cô bạn gái, một cô gái tốt bụng,và nếu như cô ây nói là cô ấy sẽ chờ đợi thì cô ấy sẽ nhất định chờ, mặc dù anh trở về đã mất một chân… Đrêmốp cũng không thích kể về những chiến công. “Tôi chẳng thích nhớ đến những chuyện ấy!” Anh chau mày và hút thuốc. Chúng tôi chỉ được biết những chiến công của anh qua lời kể của anh em cùng kíp chiến đấu. Đặc biệt, anh lính lái xe tăng Tsuvilép đã kể nhiều chuyện ngạc nhiên về Êgo Đrêmốp.

-… Anh biết không, chúng tôi chỉ vừa kịp triển khai đội hình, tôi nhìn ra đã thấy xe tăng địch từ phía sau cái mỏm đồi thấp bò ra… Tôi hét lên: “Đồng chí trung uý, Con cọp!”-”tiến lên - trung uý quát - hết tốc độ!… “Tôi cho xe lẩn vào khu rừng thông non, ngoặt sang phải, rồi sang trái…. “Con cọp” chĩa nòng pháo ra như thằng mù, thành ra bắn trượt… Còn trung uý, trung uý đã nện ngay một phát vào sườn xe tăng địch, mảnh vụn bắn tung toé! Anh ấy bồi tiếp một phát nữa vào tháp pháo - thế là nòng pháo chổng ngược lên, tới phát thứ ba thì khói phì ra từ các khe hở và một ngọn lửa bùng lên cao đến trăm mét… Mấy thằng lính tăng Đức bò ra qua cửa phụ. Ivan Lápsin quất một tràng súng máy, chúng nó nằm đờ ra, giãy giụa… Anh có hiểu không, với chúng tôi thế là đường đã thông. Chỉ năm phút sau, xe tăng chúng tôi đã xông thẳng vào làng. Ở đây tôi đến chết mệt vì buồn cười… Bon phát xít bạ đứa nào đứa ấy chạy. Anh có biết không, đường làng thì lầy lội, có thằng đã văng mất cả ủng chỉ còn bít tất - nó chạy như ma đuổi! Chúng nó ùa về phía kho cỏ. Đống chí trung uý ra lệnh cho chúng tôi: “Phóng về phía kho cỏ”. Tôi quay tháp pháo trở lại, mở hết ga. Cha me ơi! Những rầm xà, những tấm ván, gạch ngói rơi xuống thành xe loảng xoảng, mấy thằng chó chết đang chúi đầu trong kho… Tôi nhấn ga cho xe lướt qua chà xát,mấy cánh tay chới với - thế là mấy thằng Hít-le đi đời…”

Đấy, trung uý Êgo Đrêmốp đã chiến đấu anh dũng như thế cho đến khi có chuyện rủi ro xảy ra với anh. Trong chiến dịch Cuốc-xcơ, khi bọn phát xít Đức đã kiệt sức và run rẩy, thì xe tăng của trung uý Đrêmốp đang ở trên cái gò giữa cánh đồng lúa mì, bị trúng đạn sau phát đạn thứ hai - xe tăng bốc cháy. Hai người trong kíp chiến đấu hy sinh. Chiến sĩ lái Tsuvilép đã chui ra khỏi xe tăng qua cửa trước, nhưng rồi anh lại trèo lên xe và kịp kéo trung uý Đrêmốp đã ngất lịm, quần áo cháy xém ra khỏi xe. Tsuvilép chỉ vừa kịp lôi Đrêmốp ra thì chiếc xe tăng đã nổ tung, mạnh tới mức làm tháp pháo văng ra xa tới năm mươi thước. Tsuvilép lấy hai tai bốc đất hất lên mặt, lên đầu Đrêmốp để dập tắt lửa. Rồi anh kéo Đrêmốp, bò qua nhiều hố đạn đại bác để tới trạm cứu thương…”Tại sao lúc đó tôi lại lôi trung uý đi à? - Tsuvilép nói - bởi vì tôi nghe thấy tim trung uý còn đập…”

Êgo Đrêmốp thoát chết, và thậm chí không bị hỏng mắt, cho dù anh bị bỏng nặng có chỗ trông thấy rõ cả xương. Tám tháng ròng Đrêmốp phải nằm ở viện quân y, các bác sĩ đã làm phẫu thuật chỉnh hình, nhờ thế mà hồi phục được môi, mũi, mi mắt và tai. Sau tám tháng, khi tháo băng Đrêmốp thấy bộ mặt của mình không còn giống như trước. Cô y tá, sau khi đưa cho anh mượn cái gương nhỏ, đã quay mặt đi và oà khóc. Đrêmốp lập tức đưa trả lại cho cô gái chiếc gương

- Nhiều khi còn tồi tệ hơn nữa kia, dù sao cũng còn là may - Đrêmốp nói - như thế này vẫn có thể sống được.

Từ lần ấy, Đrêmốp chẳng bao giờ hỏi mượn gương cô y tá nữa, anh chỉ lấy tay sờ lên mặt, hình như để cho quen dần. Hội đồng giám định cho rằng, giờ thì Đrêmốp chỉ còn có thể phục vụ ở đơn vị hậu cần mà thôi. Đrêmốp lập tức tới gặp thiếu tướng và nói: “Xin đồng chí cho phép tôi được trở lại trung đoàn”. “Nhưng đồng chí bây giờ là thương binh kia mà” - thiếu tướng nói. “Không đúng, tôi bị tàn tật thật, nhưng điều đó chẳng hề cản trở công việc, tôi sẽ phục hồi hoàn toàn khả năng chiến đấu”. (Êgo Đrêmốp nhận thấy rằng, trong lúc tiếp chuyện anh, thiếu tướng cố ý không nhìn vào mặt anh, song anh chỉ nhếch mép cười). Đrêmốp được nghỉ phép hai mươi ngày để phục hồi sức khoẻ, anh quyết định về nhà thăm bố mẹ. Lúc ấy là tháng Ba vừa rồi.

Lúc xuống ga xe lửa, Đrêmốp cứ chắc mẩm sẽ thuê được xe ngựa, nhưng rồi anh đã phải cuốc bộ mười tám véc-xta. Tuyết vẫn phủ trắng xoá, trời ẩm ướt, con đường vắng lặng, gió lạnh thổi tung vạt áo choàng, và tiếng gió vun vút bên tai gợi lên một nỗi buồn hiu quạnh. Đrêmốp về tới làng lúc trời đã nhá nhem. Cái giếng đầu làng với chiếc gầu múc nước đang đung đưa kẽo kẹt. Ngôi nhà thứ sáu kia là nhà cha mẹ anh. Thốt nhiên, Đrêmốp lắc lắc đầu. Anh đi theo lối tắt về nhà. Đrêmốp đứng trong đám tuyết ngập đến đầu gối, nhìn vào cửa sổ, - dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn vặn nhỏ, mẹ anh đang lúi húi dọn bữa ăn tối. Mẹ vẫn đôi cái khăn màu đen ấy, vẫn lặng lẽ, trầm tĩnh và hiền hậu. Mẹ đã già hơn, đôi vai gầy nhô cao lên… “Chao ôi, nếu như con biết thế này, thì con sẽ viết thư cho mẹ mỗi ngày một lá, dù chỉ đôi dòng…” Mẹ đặt mấy món ăn sơ sài lên bàn - cốc sữa, miếng bánh mì, hai cái thìa, lọ muối - rồi mẹ đứng trước bàn, khoanh đôi tay gầy guộc lên trước ngực và trầm tư. Êgo Đrêmốp ngắm mẹ qua cửa sổ, anh hiểu rằng không nên làm mẹ sợ hãi, không nên để nét mặt nhăn nheo của mẹ phải run rẩy tuyệt vọng. Thôi được! Drêmốp mở cổng và đi vào sân, anh khẽ gõ cửa. Bà mẹ hỏi vọng ra: “Ai đó?” - Anh đáp:”Trung uý, Anh hùng Liên Xô Grômốp”.

Đrêmốp hồi hộp, tim đập thình thịch, đứng tựa vai vào then cài cửa. Không, mẹ đã không nhận ra giọng nói của anh. Cả anh nữa, dường như đây là lần đầu tiên anh nghe thấy giọng nói đã thay đổi sau bao lần phẫu thuật của mình - giờ đây nó đã trở nên đùng đục, khàn khàn nghe không rõ nữa.

- Ôi chao, anh cần gì vậy? - bà mẹ hỏi.

- Cháu muốn chuyển lời hỏi thăm của thượng uý Đrêmốp tới bà Maria Pôlicácpốpna. Bà mẹ vội vã mở cửa và bước lại nắm lấy hai tay anh.

- Thằng Êgo nhà tôi còn sống chứ anh? Nó khoẻ chứ? Ôi chao, anh vào nhà đi chứ.

Êgo Đrêmốp ngồi xuống chiếc ghế dài bên bàn, đúng chỗ mà anh vẫn ngồi lúc nhỏ, lúc chân anh còn chưa chấm đất và mẹ anh vẫn thường vuốt ve mái tóc quăn quăn của anh, rồi nói: “Ăn đi con yêu của mẹ”. Và Đrêmốp bắt đầu kể cho bà nghe về đứa con trai của bà, về chính mình, anh kể tỉ mỉ - Êgo ăn ra sao, uống thế nào, chằng thiếu thứ gì, luôn khoẻ mạnh và vui vẻ, anh kể vắn tắt về các trận chiến đấu mà anh cùng chiếc xe tăng của mình đã tham dự.

- Cháu nói đi, ở ngoài mặt trận khủng khiếp lắm phải không? - bà Maria Policácpốpna ngắt lời và đưa đôi mắt màu thẫm nhìn thẳng vào anh, nhưng vẫn không nhận ra con mình.

- Vâng tất nhiên là khủng khiếp lắm, mẹ ạ, nhưng chúng con đã quen rồi.

Cha anh đã về, ông Êgo Êgôrôvích, mấy năm qua cũng đã yếu đi nhiều. Râu cằm ông đã bạc phơ cả. Đưa mắt nhìn khách, ông dậm chân trong đôi ủng rách ở bậc cửa, thong thả cởi khăn và áo ấm, rồi bước lại bên bàn chìa bàn tay cho khách - ôi chao, cái bàn tay quen thuộc, to rộng và cần cù của bố! Ông Êgo Êgôrôvích không hỏi gì, bởi lẽ chẳng cần hỏi cũng rõ người khách ngực đầy huân chương tại sao ngồi đây, ông ngồi xuống ghế, mắt lim dim, lắng nghe.

Trung uý Đrêmốp, mà cả nhà không nhận ra, càng ngồi kể lâu hơn về mình và về những người khác, thì anh càng cảm thấy mình không sao có thể thú nhận được, có nghĩa là, đứng lên và nói: bố mẹ ơi, xin hãy nhận lấy đứa con trai bị tàn tật!… Anh cảm thấy sung sướng và dễ chịu được ngồi bên chiếc bàn của bố mẹ, nhưng cũng cảm thấy buồn bực.

- Nào, ta ăn bữa tối đi thôi, bà nó mang thứ gì ra đãi khách đi.

Ông Êgo Êgôrôvích mở chiếc tủ cũ kỹ mà góc bên trái còn có những chiếc lưỡi câu đựng trong bao diêm - tất cả vẫn còn đó - và cái ấm pha trà sứt vòi kia nữa - nó vẫn được đặt ở chỗ sực nức mùi bánh mì vụn và vỏ hành khô. Êgô Êgôrovích lấy bình rượu ra - cũng chỉ vừa đủ hai cốc và thở dài vì không sao kiếm được nhiều hơn. Họ cùng ăn tối như những ngày trước. Chỉ trong khi ăn, trung uý Đrêmốp mới nhận thấy rằng mẹ anh đặc biệt chú ý bàn tay cầm thìa của anh. Anh gượng cười, bà mẹ ngước mắt lên, nét mặt run rẩy, đau khổ. Họ nói với nhau về những chuyện này, chuyện nọ, chuyện mùa xuân năm nay sẽ ra sao, dân làng có làm nổi một vụ mùa không, và chuyện chiến tranh rồi sẽ kết thúc vào mùa hè năm nay.

- Bác Êgo Êgôrôvích, do đâu mà bác nghĩ rằng chiến tranh sẽ kết thúc vào mùa hè này.

- Nhân dân đã nổi giận - Êgo Êgôrôvích đáp - họ đã vượt qua được cái chết,và bây giờ thì chẳng thể ngăn được nữa, quân Đức sẽ đi đời.

Bà Maria Pôlicácpốpna hỏi:

- Anh vẫn chưa nói, khi nào thằng Êgo nhà tôi nghỉ phép về thăm nhà. Đã ba năm nay tôi không nhìn thấy nó. Hẳn là giờ đây nó đã lớn lắm rồi, chắc là đã để ria mép… Vậy mà ngày ngày phải liền kề với cái chết, giọng nói của nó bây giờ hẳn là ồm ồm đấy nhỉ?

- Vâng, anh ầy thế nào chắc cũng được về phép, và biết đâu hai bác chẳng thể nhận ra - Đrêmốp nói.

Bà Maria Pôlicácpốpna sắp chỗ cho Đrêmốp ngủ trên bếp lò, ở đó, anh vẫn còn nhớ từng viên gạch, từng khe hở của bức tường ghỗ ghép, từng cái sẹo gỗ trên trần nhà. Cái mùi bánh mì, mùi lông cừu thân quen cho tới lúc chết cũng không sao quên được. Những trận gió tháng Ba lộng thổi trên nóc nhà. Êgô Êgorôvích ở buồng bên đã ngáy nhè nhẹ. Còn bà Maria Policácpốpna thì vẫn trở mình trằn trọc. Đrêmốp nằm sấp, úp mặt vào lòng bàn tay: “Chẳng lẽ mẹ lại không nhận ra mình - Đrêmốp tự nhủ - Chẳng lẽ mẹ lại không nhận ra? Mẹ ơi,mẹ ơi…”

Tiếng củi cháy lách tách buổi sáng đã làm cho Đrêmốp tỉnh dậy, bà Maria Pôlicácpốpna đang lặng lẽ nhóm bếp, hai miếng vải bọc chân của anh đã được giặt sạch, phơi trên dây, đôi ủng được rửa sạch đặt bên cửa.

- Cháu có thích bánh bột kê không? - Bà Maria hỏi.

Đrêmốp không trả lời ngay, anh tụt xuống khỏi bếp lò, mặc áo sơ mi, thắt dây lưng và cứ để chân đất ngồi xuống ghế.

- Bác Maria Pôlicácpốpna, cô Cachia Malưsêva vẫn còn ở làng ta chứ? Cô Cachia con gái ông Anđrây Xtêphanôvích Malưsép ấy.

- Nó mới ra trường năm ngoái, hiện là cô giáo ở làng này. Cháu cần gặp Cachia à?

- Anh Đrêmốp bảo cháu thế nào cũng phải chuyển tới cô ấy lời hỏi thăm.

Bà Maria nhờ một đứa bé gái hàng xóm chạy đi gọi Cachia. Đrêmốp còn chưa kịp đi giày thì Cachia Malưsêva đã tới. Đôi mắt to màu xám của cô long lanh, đôi lông mày nhíu lại vì ngạc nhiên và gò má ửng đỏ vì sung sướng. Khi cô gái đẩy cái khăn trùm đầu xuống vai, Đrêmốp thầm nói với mình: ôi chao, giá mà được hôn lên mái tóc vàng óng và ấm áp này… Anh vẫn thường hình dung Cachia đúng như thế - tươi tắn, hiền dịu, vui vẻ, phúc hậu và xinh đẹp - khi cô bước vào, căn nhà như sáng rực hẳn lên…

- Anh chuyển tới em lời chào của anh Êgo phải không? (Êgo đứng xây lưng lại về phía ánh sáng và chỉ gật đầu bởi anh không thể nói được lên lời). Đêm ngày em vẫn mong đợi anh ấy, xin anh nói giùm với anh Êgo như vậy…

Cachia bước lại gần. Cô đưa mắt nhìn anh và thót ngực lại vì sợ hãi. Ngay lúc ấy, Đrêmốp đã quyết định thế nào ngày hôm nay anh cũng sẽ ra đi.

Bà Maria đã nướng xong những chiếc bánh bột kê trộn sữa đặc. Và anh lại kể về trung uý Đrêmốp, nhưng lần này anh kể về những chiến công của trung uý - anh kể một cách nghiêm túc và cũng chẳng hể ngoảnh mặt về phía Cachia để khỏi phải nhìn thấy bóng dáng nét mặt tàn tật của mình phản chiếu trên gương mặt xinh đẹp của cô gái. Ông Êgo Êgôrôvích lo đi mượn xe ngựa nông trang - nhưng Đrêmốp lai cuốc bộ ra ga, như khi trở về nhà. Anh cảm thấy đau lòng về tất cả những chuyện đã xảy ra, có lúc,thậm chí anh đứng dừng lại, lấy tay tát thẳng vào mặt mình và lẩm bẩm bằng một giọng khàn khàn: “Giờ thì biết làm sao đây?”.

Êgo Đrêmốp trở về trung đoàn lúc đó đang đóng sâu trong hậu cứ, để chuẩn bị đi bổ sung chiến đấu. Đồng đội đón anh với niềm vui chân thành, đến mức Đrêmốp quên đi những điều phiền muộn đã làm anh không ăn, không ngủ, không thở. Anh quyết định: cứ để cho mẹ chậm biết tới nỗi bất hạnh của con trai càng lâu càng tốt. Nhưng còn về phần Cachia - cần phải bứt cái rằm ấy ra khỏi trái tim thôi.

Hai tuần lễ sau, Đrêmốp nhận được thư của mẹ:

“Con trai yêu quí của mẹ. Mẹ sợ ngay cả việc phải viết thư cho con, mẹ cũng chẳng biết phải nghĩ thế nào nữa. Có một người ở đơn vị con vừa ghé thăm nhà ta, anh ấy là một người rất tốt, chỉ có điều có bộ mặt dễ sợ. Lúc đầu anh ấy định ở lại nhà ta một thời gian, nhưng rồi đột nhiên anh ấy lại đi ngay. Từ hôm ấy, đêm đêm mẹ không làm sao chợp mắt được - mẹ cứ nghĩ là chính con đã về nhà. Bố con cứ mắng mẹ về chuyện ấy và trách mẹ lẩm thẩn: nếu như đó là con trai chúng ta, lẽ nào nó lại không nói thật. Việc gì nó phải giấu, nếu như nó chính là thằng Đrêmốp nhà ta - một bộ mặt như cái anh đã về nhà ta là một bộ mặt đáng tự hào. Bố con khuyên nhủ mẹ như thế, nhưng trái tim của mẹ thì lại cứ đinh ninh: con đấy, chính con đã về thăm nhà! Anh ta nằm ngủ trên bếp lò, và mẹ đã mang áo của anh ấy ra sân và chải sạch, mẹ đã úp mặt vào áo và oà lên khóc. Đúng là con, đây chính là áo của con! Êgo, con hãy viết thư cho mẹ đi, lạy Chúa, kẻo không thì mẹ phát điên lên mất, đầu đuôi mọi chuyện là thế nào? Chẳng nhẽ mẹ đã lẩn thẩn rồi sao…”.

Êgo Đrêmốp đưa lá thư cho tôi, Ivan Xuđarép, anh vừa kể lại tất cả mọi chuyện vừa lấy tay áo lau nước mắt. Tôi bảo anh ta: “Mình đã nói mà, cái tính cách của cậu nó kỳ quái lắm! Thật là ngốc, ngốc hết sức, cậu phải viết thư ngay về cho mẹ và xin lỗi mẹ, kẻo không mẹ cậu sẽ phát điên lên… Mẹ cậu cần chi tới cái vẻ ngoài của cậu! Bây giờ cậu như thế này thì mẹ cậu lại còn yêu cậu hơn trước kia đấy”.

Ngay ngày hôm đó, Đrêmốp viết một lá thư: “Bố mẹ kính yêu, xin tha lỗi cho con vì cái tội ngu xuẩn ấy, chính là con, con trai của bố mẹ hôm ấy…” Cả bốn trang giấy đặc những chữ nhỏ li ti và anh còn có thể viết được hai chục trang nữa kia.

Ít lâu sau, một hôm, tôi cùng Êgo đang ở trường bắn thì một chiến sĩ chạy tới: “Báo cáo đồng chí đại uý, có người hỏi đồng chí…” Và mặc dù đồng chí chiến sĩ đứng nghiêm báo cáo đúng như điều lệnh, nhưng vẻ mặt của anh ta là vẻ mặt của một người sắp được đánh chén. Chúng tôi đi về thị trấn, đến ngôi nhà mà tôi và Đrêmốp đang ở. Tôi thấy Đremốp có vẻ luống cuống, cứ dặng hắng liên tục… Tôi thầm nghĩ: “Lính xe tăng, lính xe tăng gì mà dễ xúc động thế?” Hai chúng tôi bước vào nhà, và tôi nghe thấy: “Mẹ ơi, con đây!”

Một bà lão bé nhỏ ngã vào ngực anh. Tôi liếc nhìn, hoá ra ở đây còn có một thiếu nữ nữa. Nói thực lòng, có thể còn có những thiếu nữ đẹp ở các vùng khác nữa, nhưng riêng tôi, tôi chưa bao giờ nhìn thấy một cô gái đẹp như thế.

Đrêmốp buông mẹ ra, bước lại gần cô gái ấy, và tôi lai nhớ đến cái vẻ ngoài của một chiến thần: “Cachia! - Đrêmốp nói - Cachia, cô tới đây làm gì? Cô hứa sẽ đợi một người khác, chứ đâu phải một người như thế này…”

Dù đã ra phòng ngoài, tôi vẫn nghe thấy tiếng cô gái Cachia xinh đẹp trả lời: “Êgo, em sẽ sống với anh trọn đời. Em sẽ yêu anh chung thuỷ, em rất yêu anh… đừng gạt bỏ em…”

Đấy, cái tính cách Nga là như thế! Một con người chừng như là bình thường, nhưng khi gặp thử thách gay go, dù lớn hay nhỏ, ở con người ấy cũng sẽ trỗi dậy một sức mạnh vĩ đại - vẻ đẹp một con người.

A.Tonstoi

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016

WHY I AM SO POOR / TẠI SAO TA QUÁ NGHÈO ?

WHY I AM SO POOR ?

The poor man asking Buddha ” Why I am so poor ?”
Buddha reply : You are not giving and you don’t know How ?
Poor Man : I got nothing to give.
Buddha : You have things to give, not less at all.
Face: You can smile, enjoy, cheerful and happy.…
Mouth: You can speak with kind words, encourage people, cheerful and give them comfort.
Heart : You can open your heart to the others by sincere, truthful and kindness.
Eyes : You can looking at the others with kindness and compassion.
Body: You can use your own labor help out the others.
See…. You are not poor at all.
” Poor in our heart are the real poor ”

**************************

TẠI SAO TA QUÁ NGHÈO?

Một người đàn ông nghèo đến hỏi Đức Phật "Tại sao con quá nghèo vậy"?
Phật trả lời: Con không bố thì và con chưa học được cách bố thí cho người khác?
Người đàn ông nghèo: Con chẳng có gì để cho đi cả.
Đức Phật: Con có nhiều thứ để cho đi, không hẳn là không có gì.
- Nhan thí: Bố thí nụ cười, sự vui vẻ và hạnh phúc
- Ngôn thí: Bố thí ái ngữ, động viên mọi người, nói lời hay.
- Tâm thí: Bố thí tâm hòa ái, lòng chân thật, sự tử tế.
- Nhãn thí: Bố thí ánh mắt nhìn thẳng hiền từ.
- Thân thí: Bố thí hành động nhân ái, hành động giúp đỡ người khác.
Con thấy không, con chẳng hề nghèo chút nào.
"Nghèo trong trái tim, trong tâm mới là cái nghèo thực sự"


(Cái ngày gọi là Bố thí Nội tài, là Công thức "làm giàu không khó chân thực" đó)

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2016

CHIA SẺ KINH NGHIỆM CỦA THIỀN SƯ GOENKA VỀ KINH NGHIỆM THIỀN MINH SÁT - VIPASSANA

Chia sẻ của Ngài Thiền sư nổi tiếng Goenka về cơ duyên đến với Thiền minh sát, và sau này Ngài trở thành TS nổi tiếng thế giới, mang thiền minh sát trở về quê hương Ấn sau nhiều năm biến mất. (Vipassana là một trong những phương pháp thiền định xưa nhất của Ấn Độ. Nó được Đức phật Thích ca khám phá lại cách đây trên 2500 năm, và nó là phương pháp cốt lõi mà Đức phật đã tu tập và giảng dạy trong suốt 45 năm hoằng Pháp của Ngài).
***********************************************
Tôi rất may mắn được sinh ra trong vùng đất này, vùng đất Dhamma (Pháp), Dhamma ấy vẫn còn nơi đây. Tôi lại rất may mắn được sinh ra trong gia đình Kinh doanh. Vì nếu không được sinh trưởng trong một gia đình Kinh doanh, giàu có. Và nếu tôi không kiếm ra được nhiều tiền thì có lẽ một phần nào đó trong tâm tôi vẫn còn nghĩ rằng: “Những người giàu có sống cuộc đời hạnh phúc. Tôi thiếu cuộc sống giàu sang này. Tôi phải được như những người giàu có này”. Giờ đây, tôi đã trải qua cảnh ấy và biết rằng những người giàu có này khổ sở như thế nào. Rất khổ, sự bon chen, cực lực để kiếm tiền, chỉ biết kiếm tiền, không có gì ngoài tiền, tiền, tiền, việc ấy làm cho họ rất khổ sở. Tôi đã trải qua hết những thứ đó, tôi may mắn đã trải qua tất cả những nỗi khổ đó. Vào lúc còn rất trẻ, tôi đã bắt đầu tranh đua kiếm tiền. Theo tiêu chuẩn của nước Miến Điện, tôi đã kiếm ra rất nhiều tiền. Tôi là người rất giàu, hoàn toàn thành công trong ngành Kinh doanh và kỹ nghệ. Và khi người nào kiếm ra nhiều tiền, kẻ ấy có được địa Vị đặc biệt trong xã hội. Ông ta được cử làm thủ quỹ, chủ tịch hay thư ký tổ chức tôn giáo này, tổ chức an sinh xã hội kia. Trong nhiều đoàn thể khác nhau, tôi đã là chủ tịch, thư ký, giám đốc, quản trị viên. Lại thêm một thứ điên cuồng nữa, nó ăn sâu vào đầu, bản ngã được thổi phồng lên: “Hãy xem này, tôi là một nhân vật quan trọng đến như thế”. Tất cả những điều trên xảy ra với tôi vào lứa tuổi còn rất trẻ, khoảng 25 tuổi. Điều này gây ra sự điên cuồng như thế, nó tạo ra nhiều căng thẳng nội tâm. Một lần nữa, tôi may mắn đã trải qua hết những khó khăn này. Tôi mắc phải chứng đau đầu dữ dội, một loại đau đầu Kinh niên đặc biệt, không chữa trị được. Các Bác sĩ giỏi nhất Miến Điện đã cố chữa trị cho tôi. Dùng đủ mọi loại thuốc, không có tác dụng gì, các Bác sĩ bắt đầu chích thuốc phiện cho đỡ đau. Cứ khoảng mỗi 2 tuần, tôi bị đau nhức Kinh khủng, không có phương cách chữa, họ tiêm thuốc phiện cho tôi. Tôi bị chích thuốc phiện như thế, khoảng 4 hay 5 năm. Rồi chính các Bác sĩ tài giỏi này bắt đầu nói với tôi: “Dần dần ông sẽ trở thành người nghiện thuốc phiện. Bây giờ, ông phải chích thuốc phiện vào để đỡ đau đầu, nhưng sau này, ông phải chích thuốc phiện vì nghiện thuốc phiện. Ông phải chích thuốc phiện mỗi ngày”. Nếu phải chích thuốc phiện mỗi ngày, đời sống của tôi còn ra gì nữa. Cho nên, họ khuyên tôi: “Ông thường xuất ngoại để làm ăn, hãy quên chuyện làm ăn một chuyến, hãy đi một chuyến chỉ để cai thuốc phiện. Chúng tôi biết rằng không có Bác sĩ nào có thể chữa trị chứng nhức đầu Kinh niên đặc biệt mà ông hiện đang phải chịu. Nhưng chắc chắn, họ sẽ có loại thuốc giảm đau khác. Tại sao ông không thử mộtchuyến?”. Nghe theo lời khuyên, tôi rời Miến Điện, lưu lại ở Thụy Sỹ, Đức, Anh và Bắc Mĩ một thời gian dài. Tôi có văn phòng riêng ở Nhật Bản nên tôi lưu lại ở đó lâu hơn. Khắp mọi nơi, tôi tham khảo ý kiến các Bác sĩ tài giỏi nhất, tốn rất nhiều tiền, mất nhiều thời gian. Một lần nữa, tôi đã may mắn vì không có Bác sĩ nào có thể chữa trị bệnh của tôi được. Các Bác sĩ tài giỏi nhất trên thế giới cũng không thể chữa lành bệnh cho tôi. Họ còn chưa thể giải trừ thuốc phiện mà tôi đã tiêm vào, huống chi là chữa trị chứng nhức đau đầu Kinh niên này. Thật là may mắn cho tôi. Tôi trở về Miến Điện đầy thất vọng. Nhưng cuối cùng, hóa ra lại là may mắn, một người bạn rất thân của tôi (người sau này trở thành Thẩm phán Tòa án tối cao Miến Điện) đã khuyên tôi: “Goenka! Ông đã tìm kiếm khắp nơi. Sao không thử khóa Thiền 10 ngày với Thiền sư Vipassana này. Theo tôi chứng bệnh của ông có vẻ như loại bệnh thuộc về tinh thần – một phương pháp thanh lọc tâm của Đức Phật đang được truyền dạy ở đây. Khi tâm được thanh tịnh căn bệnh tinh thần sẽ hết. Tại sao ông không thử?”. Tôi nói: “Nếu phương pháp này công hiệu thì thật là tuyệt vời”.Tôi đến gặp Thầytôi (Sayagyi U Ba Khin), một con người với đầy từ tâm. Tôi đến gặp ông và nói: “Tôi muốn tham dự một khóa Thiền 10 ngày của Thầy”. Thầytôi trả lời: “Ông được chấp nhận theo học”. Thầytôi biết tôi là người lãnh đạo cộng đồng Ấn Giáo và phương pháp Thiền là con đường tu học của đạo Phật. Thầy tôi nói: “Đừng lấy thế mà e sợ! Bất cứ ai cũng có thể theo học, người theo Hồi Giáo, Cơ Đốc Giáo, Kỳ Na Giáo, Ấn Giáo… không thành vấn đề. Tất cả đều tu tập được cùng một lợi ích như nhau. Nếu ông theo Ấn Giáo, ông vẫn cứ giữ nguyên Ấn Giáo, tôi đây không cải Đạo ông đâu. Nhưng hãy thử phương pháp Thiền này, đây là phương pháp hay. Rồi tôi nói rằng: “Tôi đến đây vì bệnh nhức đầu Kinh niên”. Bất ngờ, ông ta nói: “Không, tôi sẽ không nhận dạy cho ông, tôi sẽ không nhận dạy cho ông.” “Thưa ngài, tại sao thế?” Thầytôi nói: “Ông đang làm giảm giá trị của Dhamma. Dhamma là con đường tâm linh rất cao cả, một con đường có thể đưa ông ra tất cả mọi khổ đau, hết kiếp này đến kiếp khác. Và ông chỉ muốn sử dụng phương pháp Thiền này vào việc chữa trị chứng nhức đầu của ông. Không được, nếu chỉ để chữa trị chứng nhức đầu của mình, ông có thể đi gặp Bác sĩ hay vào bệnh viện. Đây không phải là nơi chữa trị chứng nhức đầu của ông”. Rồi bằng lòng đầy từ ái,ông giải thích cho tôi: “Nếu ông hànhThiền, phương pháp này sẽ thanh lọc tâm của ông. Nguồn gốc khổ đau của ông là do những bất tịnh trong tâm. Khi những bất tịnh này mất đi, những căn bệnh về tinh thần sẽ mất đi. Lợi ích này sẽ đến, đây là một sản phẩm phụ.Ví dụ, ông muốn thiết lập một nhà máy làm đường, để làm gì? Để sản xuất đường chứ không phải để sản xuất mật mía, sản phẩm phụ là mật mía sẽ tự nhiên được tạo ra. Không ai xây nhà máy đường để sản xuất mật mía cả, nó chỉ là một thứ sản phẩm phụ. Cũng như thế, ông không nên đến đây chỉ vì chứng nhức đầu của ông. Hãy đến đây để thực tập con đường tâm linh cao cả này. Chỉ có thế, phương pháp Thiền này mới giúp ích cho ông được”. Tôi hiểu, bởi vì Thầytôi rất tử tế và đầy lòng từ ái, nơi ông phát ra từ trường rất tuyệt diệu: “Vâng, thưa Ngài! Tôi sẽ học vì lý do tâm linh chứ không phải vì chứng nhức đầu này. Nếu chứng nhức đầu này không chữa được, thì không chữa được chứ sao? Tôi không quan tâm nữa”. Nhưng trở về nhà, tôi đã phải đương đầu với tập quán ăn sâu từ thuở thơ ấu. Tôi sinh ra trong gia đình Ấn Giáo, hết sức bảo thủ, chúng tôi được dạy từ nhỏ là phải kính trọng Đức Phật. Đức Phật được xem như là hiện thân của Thượng Đế toàn năng, của Đấng sáng tạo. Ngài là hiện thân cuối cùng, hiện thân thứ 9 của Vị thần đó. Cho nên, chúng tôi phải kính trọng và tôn sùng Ngài. Nhưng còn giáo huấn của Ngài? Ồ! Không! chúng tôi được dạy rằng giáo huấn của Ngài không tốt, vì Ngài không tin vào linh hồn, Ngài không tin vào Thượng Đế, giáo huấn của Ngài là vô thần, không tốt. Tâm tôi đã được huấn luyện như thế và điều này làm tôi lo lắng: “Nếu tôi đi gặp những người này học phương pháp Thiền đó. Và nếu tôi trở thành Phật tử và không có tin vào Thượng Đế, không tin vào linh hồn, tôi sẽ trở thành cái gì? Tôi có thể sa xuống địa ngục. Ồ! Không! Pháp môn này không phải dành cho tôi, tốt hơn tôi đừng nên học”. Cứ thế, sự giằng co kéo dài mấy tháng, về sau tôi nghĩ Vị Thiền sư nói: “Ông là người theo Ấn Giáo cứ giữ nguyên Ấn Giáo. Mục đích của tôi không phải cải Đạo ông sang đạo Phật, mà để giúp ông trở thành một người tốt. Ông gìn giữ Sīla (Giới luật), thực hành Samādhi (Định) để làm chủ được tâm và thực hành Paññā (tuệ) để thanh lọc tâm. Điều này ông chấp nhận được, vậy tại sao không thử xem?”. Tôi quyết định sẽ thử, nhưng với quyết tâm là tôi vẫn giữ nguyên Ấn Giáo: “Được, tôi sẽ thử 10 ngày, nhưng tôi sẽ không trở thành Phật tử”. May mắn thay, tôi tham dự khóa học như bao nhiêu người khác. Dĩ nhiên, vào ngày thứ 2, tôi cảm thấy muốn bỏ đi. Chẳng qua vì tập quán trong đầu, tôi nghe người khác nói rằng khi họ Thiền, họ thấy ánh sáng này, ánh sáng kia, nhưng tôi chẳng thấy ánh sáng nào cả. Truyền thống của tôi cho rằng nếu ta thấy được ánh sáng linh thiên, đây là giai đoạn giải thoát. “Hãy nhìn xem! những người này họ thấy được ánh sáng linh thiên, còn tôi chẳng thấy gì cả”, và tôi còn nhớ lời của một Vị Thánh nhân nói: “Một con lạc đà có thể đi xuyên qua lỗ kim, nhưng người giàu có không thể đi qua cổng thiên đàng”. Tôi nghĩ rằng: “Mình là người giàu có nên cách tu tập này không hợp với tôi. Tất cả những người này, họ là Thầygiáo, Giáo sư Đại học, Bác sĩ, những người tốt, những người có tâm từ bi. Họ có thể thấy được ánh sáng linh thiêng này và những thứ khác. Tôi không thể thấy được. Vậy tại sao còn phí thời giờ của tôi ở đây làm gì? Tốt hơn là nên đi về và tôi thu xếp quần áo”. Một trong những Thiền sinh tốt bụng cùng khóa, là một Giáo sư dạy lịch sử ở trường Đại học. Thấy tôi thu xếp đồ đạc và muốn bỏ về, cô nói với tôi: “Chỉ một ngày nữa thôi! Vào ngày đầu tiên, ông đã có nhiều cảm giác. Thường thường, người ta chỉ có cảm giác vào ngày thứ 3. Ông có những cảm giác này và Thiền sư rất hài lòng với sự tu tập của ông. Tại sao ông muốn bỏ về? Ánh sáng không có gì là quan trọng cả. Đừng cho nó là quan trọng, hãy ở lại thêm một ngày”. Tôi rất mang ơn cô ấy vì đã ngăn không cho tôi bỏ về. Nếu không, tôi đã vĩnh viễn bỏ con đường tu tập tuyệt diệu này. Tôi đã ở lại và chiều tối hôm đó, tôi bước vào cái cốc nhỏ để ngồi Thiền. Khi ngồi xuống, ánh sáng xuất hiện. Ánh sáng này, ánh sáng kia hiện ra, bởi vì giờ đây, tâm tôi không còn ham muốn ánh sáng nữa, tôi ở cùng với cảm giác. Đột nhiên,một âm thanh tới, và với hiện tượng này là ấm thanh linh thiên: “Ồ! Đây là âm thanh linh thiên, đây là một Vị linh thiên, đây là ánh sáng linh thiêng”. Tôi nghĩ: “Không, Thầy tôi đã dạy đừng chú trọng đến những thứ này, chỉ chú trọng đến cảm giác”. May mắn thay, tôi đã trải qua hết những kinh nghiệm đó. Vào ngày thứ 5 hay thứ 6, toàn bộ giáo lý làm tôi rất mê say. Là một lãnh tụ của cộng đồng Ấn Giáo, tôi thường thuyết giảng về nhiều Kinh điển như Kinh Vệ Đà. Những lời giáo huấn tương tự được đưa ra khắp trong Kinh này. Đó là: “Hãy thoát khỏi ham muốn, khỏi ghét bỏ, giận dữ, thoát khỏi cái này, cái kia”. Nhưng làm sao để thoát khỏi những thứ ấy? Chẳng có phương pháp nào cả, chỉ là lời giáo huấn suông, lời thuyết giảng suông. Và với phương pháp Thiền Vipassana, tôi thấy rằng đây là phương pháp ứng dụng. Ở đây, tôi có được phần ứng dụng, một phương pháp Thiền huyền diệu, giúp tôi thoát khỏi ham muốn. Tôi đã không thể thoát khỏi sự ham muốn, sợ hãi, ngã mạn, giận dữ của mình. Và phương pháp Thiền này cho tôi con đường thực tế để thoát khỏi những tiêu cực này, nên tôi rất mê say. Sau 10 ngày, tôi thấy: “Phải, có vài thay đổi đã đến trong đời tôi, thay đổi đã diễn ra”. Tôi bắt đầu tận dụng phương pháp Thiền này. Tôi cảm thấy rất may mắn là được sinh ra trong xứ sở Miến Điện, nơi đã duy trì được phương pháp Thiền này, trong sự tinh khiết ban đầu của nó, dù chỉ với rất ít người. Họ đã giữ nguyên lời Đức Phật dạy trong sự tinh khiết thuở ban đầu, và giữ gìn phương pháp của Đức Phật trong sự tinh khiết thuở ban đầu. Và tôi gặp được Vị Thánh nhân này với đầy lòng từ ái, Vị ấy đã dạy Dhamma cho tôi. Trong 14 năm tôi vừa chu toàn bổn phận của một Cư sĩ tại gia,vừa tiếp tục tu tập theo phương pháp này. Sau 14 năm, việc xảy ra là cha mẹ tôi phải rời khỏi Miến Điện về Ấn Độ. Mẹ tôi bị bệnh nặng, một loại tâm bệnh nào đó. Tôi biết rằng nếu tập Vipassana, mẹ tôi sẽ khỏi bệnh đó. Nhưng vào dạo ấy, chính phủ Miến Điện không cấp giấy phép xuất cảnh cho kiều dân. Tôi cảm thấy rất biết ơn chính phủ Miến Điện đã cấp giấy phép xuất cảnh để tôi đi Ấn Độ dạy Vipassana cho mẹ tôi. Và tôi rất biết ơn chính phủ Ấn Độ đã cho phép tôi ở lại lâu hơn, để dạy phương pháp Thiền này cho mẹ tôi. Khóa đầu tiên được khai giảng ngay trong tháng đầu tiên khi tôi đến Ấn Độ. Đức Phật có nói rằng: “Ta không thể đền đáp hết công ơn dưỡng dục của cha mẹ, khó lắm. Cho dù có phụng sự cha mẹ suốt đời mình, không hề làm việc gì khác, ta vẫn không thể trả hết món nợ này. Chỉ có một cách duy nhất để trả hết món nợ của mình với cha mẹ là nếu cha mẹ chưa vững vàng trong Sīla, hãy giúp cha mẹ củng cố, vững vàng trong Sīla. Nếu cha me đã vững vàng trong Sīla nhưng chưa có Samādhi, hãy giúp cha mẹ củng cố, vững vàng trong Samādhi. Nếu cha mẹ đã vững vàng trong Sīla và Samādhi nhưng chưa có Paññā, hãy giúp cha mẹ củng cố, vững vàng trong Paññā. Nếu cha mẹ đã có Sīla, Samādhi, Paññā nhưng chưa thực chứng mục đích tối hậu Nibbāna (Niết bàn), hãy giúp cha mẹ chứng nghiệm được Nibbāna”. Tôi cảm thấy rất may mắn là mình đã có thể đền đáp được công ơn cha mẹ. Đấy là một khóa Thiền ít người gồm cha mẹ tôi và 12 người khác tham dự, vài người quen biết, vài người không quen. Tôi đến Ấn Độ chỉ trong 3 tháng để trao truyền Dhamma cho cha mẹ, đặc biệt là mẹ tôi. Rồi 12 người này, sau khi xong khóa Thiền, bắt đầu năn nỉ: “Xin dạy thêm thêm một khóa nữa. Cha tôi sẽ tham dự, vợ tôi, chồng tôi, con trai, con gái tôi…. Ehipassiko, đây là đặc tính của Dhamma, hãy đến mà xem. Thế là một khóa nữa, rồi một khóa nữa, rồi một khóa nữa. Tôi không biết thời kỳ 3 tháng này trôi qua lúc nào. Rồi hết tháng này đến tháng khác, hết năm này qua năm khác, hết khóa này đến khóa khác, dòng sông Hằng của Dhamma bắt đầu trôi chảy tại quốc gia, nơi nó khởi nguồn. Khi tôi còn ở Miến Điện, nhiều người ở đó có niềm tin rất mãnh liệt. Thầ ytôi cũng có niềm tin này.Hình như khi Dhamma huyền diệu này được vua Asoka truyền tới Miến Điện. Hai Vị Arahan, hai Bậc Giác Ngộ được gởi đến đó, Sona và Budhada. Khi được gửi đến đó, Thầy của hai Vị này đã nói rằng “Hai Vị hãy mang Pháp bảo này đến một xứ sở, là nơi sẽ duy trì được tinh khiết, nguyên thủy của nó qua nhiều thế kỷ. Phương pháp Thiền này sẽ bị mất đi ở mọi nơi khác, nhưng nó sẽ tồn tại ở xứ đó. Tên nước đó thời ấy là Surbana Burmese, vùng đất vàng, xứ sở hoàng kim. Chính xứ sở hoàng kim này sẽ bảo trì được viên ngọc quý này sau khi Đức Phật qua đời 2500 năm”. Một lần nữa,Pháp bảo này sẽ tới Ấn Độ, được củng cố vững chắc ở đấy, rồi lan truyền đi khắp thế giới. Thầy tôi thường nói: “Bây giờ, 2500 năm đã qua rồi”. Tôi không biết có thể vì tình cờ, đây là năm tôi thọ nhận Dhamma, năm thứ 2500 đã qua và đây là năm đầu tiên của Sāsana (Phật pháp) kế tiếp.

(Ai hứng thú có thể đọc toàn bộ cuốn: Khóa Thiền 10 Ngày - TS. Goenka.)