Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Thiền n Thiền Vipassanā


 Trước hết, thuật ngữ Pāḷi của từ “tham thiền” là Kammaṭṭhāna. Kammaṭṭhāna được giải thích là “Lãnh vực hay khu vực hành động” có nghĩa là nơi sanh khởi của việc hành thiền (Bhāvanā). “Kamma” = hành động và ở đây, có nghĩa là tham thiền (Bhāvanā), tức là sự phát triển tâm linh. Theo ý nghĩa đó thì Kammaṭṭhāna có nghĩa là đề mục hành thiền, chẳng hạn như hơi thở.

Có hai loại thiền trong Phật giáo:

1. Thiền chỉ (Samatha),

2. Thiền Minh sát (Vipassanā).

Thiền Minh sát (Vipassanā) là loại thiền đặc biệt của Phật giáo. Có nghĩa là chúng ta chỉ tìm thấy thiền Vipassanā trong Giáo Pháp của Đức Phật.

Thiền chỉ (Samatha) được tìm thấy ở cả trong những tư tưởng ở ngoài Phật giáo. Nghĩa là, những người thuộc tín ngưỡng khác ngoài Phật Giáo, họ vẫn có thể thực hành thiền chỉ và chứng đạt các tầng thiền định (Jhāna) và thậm chí cả những loại thần thông (Abhiññā). Thậm chí khi Đức Phật chưa đắc đạo, thiền chỉ đã được dạy thời đó. Chính Bồ Tát cũng đã học với 2 vị thầy ẩn sĩ lúc mới rời bỏ hoàng cung đi xuất gia và đắc những tầng thiền cao nhất.Từ “Samatha” được dịch là tĩnh lặng hay an định, có nghĩa là một cái gì đó làm cho một cái gì khác được an bình. Nó phát nguồn từ gốc từ “Sam” có nghĩa là trở nên an bình. Loại thiền này đưa tới sự an lạc, tĩnh lặng, đè nén phiền não nhưng không đưa đến phát triển trí tuệ.

Loại thiền thứ hai là thiền Minh sát.

 Vipassanā = vi + passanā

 Vi: đặc biệt, sâu sắc, lặp đi lặp lại

 passanā: là nhìn/quan sát. 

> Vipassana nghĩa là nhìn/quán sát một cách đặc biệt, sâu sắc, là "cái nhìn thấu suốt" hoặc "cái thấy đặc biệt", hay nhìn thấy theo nhiều cách khác nhau.

Đây là quá trình tự quan sát, rèn luyện tâm trí để nhận biết rõ ràng mọi sự vật đúng như bản chất, không có cái nhìn sai lệch do tà kiến, đức tin, tập quán, thói quen, tham, sân, si...

Mục đích: Thanh lọc tâm bằng cách loại bỏ các ô nhiễm (tham, sân, si) thông qua việc quan sát khách quan các hiện tượng trên thân và tâm mình. Từ đó phát triển được trí tuệ. Trí Tuệ sanh khởi thì vô minh đẩy lùi, chấm dứt khổ ưu. Tâm trí được giải thoát.

" Tuy nhiên, trong Giáo Pháp của Đức Phật, thiền chỉ tịnh (Samatha) vẫn được dạy bởi vì sự tĩnh lặng và an định mà nó mang đến tạo nên một nền tảng vững chắc cho sự thực hành thiền Minh sát.” (CMA, IX, Guide to §1, p.329). 

Đức Phật dạy thiền chỉ thật ra để dùng làm nền tảng cho thiền Minh sát. Các vị đệ tử có thể thực hành thiền chỉ và chứng đắc các tầng thiền, nhưng họ không nên dừng lại và thỏa mãn với sự chứng đắc các tầng thiền và các loại thần thông. Các vị phải lấy các tầng thiền làm đề mục thiền và tiếp tục thực hành thiền Minh Sát trên chúng.

Như vậy, cả hai loại thiền Chỉ và thiền Minh sát đều được dạy trong Phật giáo hay nói các cách khác, cả hai đều được chỉ dạy bởi Đức Phật.

(ref. TTĐ)

🙏

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2017

Giới thiệu về thiền minh sát Vipassana

Giới thiệu về thiền minh sát Vipassana

Thiền Vipassana (thiền minh sát tuệ) là một phương pháp tu đơn giản, thực tế mang lại kết quả là tâm an lạc và hướng đến một đời sống lợi lạc và hạnh phúc. Vipassana có nghĩa là " thấy mọi sự vật như thật bản chất của chúng ngay trong lúc quan sát" nó là một tiến trình logic của việc thanh lọc tâm qua phương cách tự quán chiếu (self- observation) .



Thiền Vipassana (thiền minh sát tuệ) là một phương pháp tu đơn giản, thực tế mang lại kết quả là tâm an lạc và hướng đến một đời sống lợi lạc và hạnh phúc. Vipassana có nghĩa là " thấy mọi sự vật như thật bản chất của chúng ngay trong lúc quan sát" nó là một tiến trình logic của việc thanh lọc tâm qua phương cách tự quán chiếu (self- observation) .

Trải qua tiến trình thời gian, chúng ta sẽ kinh nghiệm tất cả sự lo âu, sự trạo hối và sự bất hòa. Khi chúng ta khổ, chúng ta không giữ nỗi khổ trong tâm chúng ta; thay vì, chúng ta làm phiền đến người khác. Rõ ràng, đây không phải là phương cách thích hợp để sống. Tất cả chúng ta mong muốn sống trong an bình giữa chúng ta và mọi người xung quanh. Sau hết, con người là những người sống trong xã hội; chúng ta phải sống và ban giao với họ. Làm thế nào chúng ta có thể sống một đời sống an bình? Làm thế nào chúng ta có thể duy trì an hòa trong chúng ta, và duy trì hòa bình và hài hòa xung quanh chúng ta?
Vipassana có thể giúp chúng ta sống an lạc và hài hòa; nó làm thanh tịnh tâm, giải thoát tâm ra khỏi khổ đau và những nguyên nhân cội rễ của khổ đau. Hành trì, tuần tự dẫn đến mục đích thiêng liêng cao nhất của sự giải thoát hoàn toàn tất cả mọi ô nhiểm thuộc về tâm lý.


NGUỒN GỐC LỊCH SỬ

Vipassana là một trong những phương pháp thiền định xưa nhất của Ấn Độ. Nó được Đức phật Thích ca khám phá lại cách đây trên 2500 năm, và nó là phương pháp cốt lõi mà Đức phật đã tu tập và giảng dạy trong suốt 45năm hoằng hóa của ngài. Vào thời Đức phật , nhiều người sống vùng bắc Ấn Độ (ngày nay thuộc tiểu bang Biha và Uta Pradesh) dựa vào phương pháp tu tập Vipassana , đã thoát khỏi mọi trói buộc khổ đau trong đời và họ đã thành tựu ở những thứ bậc cao về sự chứng đạt trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Trải qua thời gian, phương pháp thiền vipassana đã lang truyền sang các nước láng giềng như Burma (Myanmar), Sri lanka (Tích lan), Thailand (Thái lan) và những nước khác, ở những nước này nguồn thiền cũng đã mang lại kết quả lợi ích lớn lao như ở Ấn độ.


Trải qua năm thế kỷ sau khi Đức phật niết bàn, giáo lý cao quí của nguồn thiền Vipassana đã biến mất khỏi Ấn Độ. Giáo lý nguyên thủy cũng không còn ở Ấn Độ. Tuy nhiên, ở Burma (Myanmar), nó được bảo tồn từ nhiều thế hệ của Các vị Thầy tận tâm bảo trì, từ thế hệ này sang thế hệ khác, trải qua hơn 2000 năm, dòng truyền trao tận tụy này(bởi các vị Thầy) đã chuyển trao phương pháp thiền định trong hình thức thuần túy nguyên thủy của nó.

Ở thời đại chúng ta, thiền Vipassana được giới thiệu trở lại Ấn Độ, cũng như những người dân từ hơn tám mươi quốc gia khác nhau, bởi Thiền sư S. N. Goenka . Thầy Goenka được Vị thầy nổi tiếng thiền Vipassana Myanmar(Sayagyi U Ba Khin) giao trọng trách dạy thiền Vipassana. Trước khi Ngài tịch vào năm 1971, Thầy Sayagyi đã chứng kiến một trong những mơ ước nhất (của Ngài) đã thành sự thật. Ngài đã mong ước sẽ đưa nguồn thiền Vipassana trở lại Ấn Độ, quê hương của nó, để Nó giúp mọi người giải trừ những khổ đau. Từ Ấn Độ, Thầy đã cảm nhận chắc chắn rằng rồi đây nó sẽ truyền bá rộng ra khắp thế giới vì lợi ích an lạc cho nhân loại.

Thầy Goenka đã bắt đầu hướng dẫn những khóa Vipassana ở Ấn Độ vào năm 1969; mười năm sau, Ngài cũng bắt đầu dạy thiền ở các quốc gia khác. Vào năm thứ 23 từ khi Ngài bắt đầu dạy, Thầy Goenka đã hướng dẫn trên 350 khóa 10 ngày về thiền Vipassana, vã đã đào tạo trên 120 Vị Thầy phụ tá, những vị Thầy này đã hướng dẫn trên 1200 khóa khắp mọi nơi trên thế giới.

Trong quá khứ, Ở Ấn Độ đặc biệt được xem như là một vị Thầy thế giới. Vào thời chúng ta, Chân lý phát nguồn từ lưu vực sông hằng(Giáo pháp Đức phật) một lần nữa đang tuông trào ra từ Ấn Độ đến những thế giới khát khao về nó.

PHƯƠNG CÁCH HÀNH TRÌ
Học thiền Vipassana, tốt nhất nên tham gia khóa mười ngày dưới sự hướng dẫn của một Vị thầy Kinh nghiệm. Trong thời gian hành trì, thiền sinh chỉ lưu trú trong khu vực của trung tâm tu thiền, không tiếp xúc môi trường ngoài khu vực trung tâm. Các thiền sinh không được đọc, viết và duy trì phương pháp tu tập của bất kỳ tôn giáo nào khác hoặc các giáo điều khác. Phải tuân theo mệnh lệnh của bản nội qui sinh hoạt hằng ngày gồm có mười tiếng ngồi thiền định. Phải hành trì tịnh khẩu , không nói chuyện với bạn đồng tu, tuy nhiên, thiền sinh tự do trình bày vấn đề thiền định với vị Thầy hướng dẫn và những vấn đề khác với ban quản lý.

Có ba bước cho việc hành trì. Bước một, thiền sinh từ bỏ các hành động có khả năng gây hại. Họ phải hành trì năm giới cấm: từ bỏ sát sanh, trộm cướp, nói láo , tà dâm và uống chất có hơi men. Sự hành trì năm giới cấm này là để cho tâm yên tĩnh thích hợp tiến hành công việc có lợi ích. Bước hai, trong 3 ngày rưởi đầu, thiền sinh hành trì thiền sổ tức (Anapana meditation) , sự tập trung vào hơi thở. Sự hành trì này giúp cho việc phát triển khả năng kiềm chế tâm tán loạn.

Hai bước đầu về cách sống thiện hành và phát triển sự kiềm chế tâm này rất cần thiết và có lợi nhưng chưa hoàn hảo trừ phi bước thứ ba được hành trì: thanh lọc tâm qua sự giảm thiểu hành vi bất thiện. Bước thứ ba được tiến hành trong 6 ngày rưởi còn lại, là sự hành trì Vipassana: chúng ta quán sát toàn bộ cơ cấu thân và tâm với trí tuệ sáng suốt.

Thiền sinh được hướng dẫn phương pháp thiền vài lần trong ngày, và tiến trình mỗi ngày được giảng qua băng video từ Goenkaji vào mỗi buổi tối. Sự im lặng tuyệt đối dành cho 9 ngày đầu. Vào ngày thứ 10, thiền sinh bắt đầu được phép nói chuyện , làm những việc trao đổi trong đời sống bình thường trở lại. Khóa thiền kết thúc vào buổi sáng ngày thứ 11. Khóa tu chấm dứt với sự thực hành từ tâm(metta-bhavana) hướng đến tất cả chúng sanh với ý nghiã sự thanh tịnh trong suốt khóa tu được chia xẻ với mọi chúng sanh.


MỘT PHƯƠNG PHÁP TU TẬP THUẦN TÚY

Mặc dù thiền Vipassana được bảo tồn trong truyền thống Phật giáo, nó không chứa đựng tính chất tông phái, và nó có thể được chấp nhận và áp dụng cho mọi người ở bất cứ nguồn gốc nào. Đức phật, chính ngài đã dạy giáo pháp (phương pháp, chân lý, con đường). Ngài không gọi chư vị Đệ tử của ngài là "Phật tử", Ngài xem họ như là "Pháp hữu" (những người hành theo chân lý). Phương pháp tu tập căn cứ vào nền tảng rằng tất cả chúng sanh có những vấn đề giống nhau , và một phương pháp thiết thực có thể xóa tan những vấn đề này có thể hành trì một cách phổ quát.

Những khóa thiền Vipassana được mở cho mọi người thành tâm muốn học phương pháp thiền, không phân biệt chủng tộc , giai cấp, tín đồ , quốc gia. Ấn Độ giáo, Kỳ na giáo, Hồi giáo, Sít giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo, Do thái giáo cũng như các Tu sĩ của các Tôn giáo khác tất cả đều tu tập thành công Vipassana. Bệnh tật thì phổ quát vì vậy, phương thuốc phải là phương thuốc phổ quát. Ví dụ, khi chúng ta sân giận , sân giận này không phải là sân giận Ấn Độ, sân giận Thiên chúa giáo, sân giận Trung hoa, hoặc sân giận Mỹ. Tương tự, tình thương, lòng từ bi không phải lãnh vực giới hạn của bất cứ cộng đồng nào hoặc niềm tin: chúng nó là đặc tính phổ quát con người kết qủa từ tâm thanh tịnh. Con người từ mọi nguồn gốc khi tu tập Vipassana mang lại kết quả rằng họ trở thành những con người tốt hơn.


MÔI TRƯỜNG THẾ GIỚI NGÀY NAY

Sự phát triển về các lãnh vực khoa học và kỹ thuật, trong sự vận chuyển, truyền thông, nông nghiệp và thuốc men, đã cải cách hóa đời sống con người ở cấp độ vật chất. Nhưng , trong thực tế, tiến trình này chỉ là hình thức nông cạn bên ngoài: dưới đáy, con người hiện đại đang sống trong những điều kiện căng thẳng về tinh thần và tình cảm, ngay cả ở các quốc gia đã phát triển và đang phát triển.

Các vấn đề và sự chống đối sinh khởi vì các thành kiến thuộc về chủng tộc, dân tộc, đảng phái, giai cấp ảnh hưởng đến nhân dân trong mọi quốc gia. Sự nghèo khổ, chiến tranh , vũ khí của vô số sự đoạn diệt, suy tàn, sự nghiện ngập, sự đe dọa của khủng bố, sự hủy diệt bệnh dịch môi trường và sự suy đồi chung về tất cả các giá trị đạo đức bao phủ bóng tối lên tương lại của nền văn minh. Chúng chỉ cần liếc qua trang đầu của các tờ nhật báo đã ghi lại nổi thống khổ và thất vọng tột cùng ảnh hưởng lên con người trên hành tinh của chúng ta.

Có phải có một phương pháp vượt ra khỏi những vấn đề dường như không thể giải quyết này? Câu trả lời rõ ràng là có. Tất cả trên thế giới ngày nay, những cơn gió thay đổi thật sự rõ ràng. Con người ở mọi nơi đang tha thiết tìm một phương pháp để có thể mang lại bình an và hài hòa; lập lại niềm tin về kết quả của những phẩm chất thiện lành con người;và tạo ra một môi trường tự do và an ổn ra khỏi mọi hình thức sự tận dụng kinh tế, tôn giáo, kinh tế. Thiền Vipassana có thể là phương pháp như vậy.


VIPASSANA VÀ SỰ CHUYỂN ĐỔI XÃ HỘI
Phương pháp tu thiền vipassana là con đường dẫn đến giải thoát mọi ràng buộc khổ đau; nó đoạn trừ tham, sân , si là nguyên nhân của mọi khổ đau. Hành giả vipassana tu tập để dời đi, một cách tuần tự, căn nguyên của khổ và thoát ly sự đen tối của những căng thẳng từ trước để dẫn đến cuộc sống sung túc, lành mạnh và hạnh phúc. Có nhiều thí dụ điển hình liên quan đến việc kiểm tra vấn đề này.


Một số các cuộc thí nghiệm được tiến hành ở các nhà tù ở Ấn Độ. Vào năm 1975, Goenkaji (Ngài Goenka) đã hướng dẫn một khóa tu thiền trở thành lịch sử cho 120 tù nhân ở tại nhà tù trung tâm (Central Jail) thuộc Jaipur (thủ phủ của Tiểu bang Rajasthan), lần đầu tiên cuộc thử nghiệm như vầy trong lịch sử hình phạt Ấn Độ. Sau khóa này vào năm 1976 một khóa khác cho các nhân viên cảnh sát cao cấp ở Truờng Huấn luyện cảnh sát chính phủ (the goverment police Academy) thuộc Jaipur. Vào năm 1977, một khóa thứ hai được tổ chức tại Nhà tù trung tâm Jaipur. Những khóa này đã là những chủ đề của các cuộc nghiên cứu xã hội được điều khiển do trường đại học Rajasthan tổ chức. Vào năm 1990, một khóa nữa được tổ chức tại Nhà tù trung tâm Jaipur trong đó có 40 trường hợp là tù nhân chung thân và 10 nhân viên nhà tù tham gia với kết quả rất mỹ mãn. Vào năm 1991, một khóa cho các tù nhân chung thân được tổ chức tại Nhà tù trung tâm Sabaramati thuộc Ahmedabad và đãlà chủ đề của chương trình nghiên cứu của Phân khoa Giáo dục của đại học Gujurat Viyapeeth. Những nnghiên cứu của Rajasthan và Ahmedabad đã đề cập đến những thay đổi rất khả quan về thái độ và cách cư xử ở những người tham gia, và cho rằng thiền Vipassana là một sự khả quan cải cách chuẩn mực có thể làm cho những tội phạm trở thành những con người tốt trong xã hội.

Sự nghiệp phục vụ dân chúng của Thầy Sayagyi U Ba Khin , vị Thầy thiền của Ngài Goenkaji, là một tấm gương của kết quả biến đổi của Vipássana ….. Sayagyi là Vị lãnh đạo của nhiều cơ quan nhà nước . Ngài đã thành công về sự thấm nhuần trách nhiệm, giới luật và đạo đức trong một ý nghĩa cao cả, và thành công trong việc dạy thiền Vipassana cho Các nhân viên nhà nước làm việc chung với Thầy. Vì vậy, hiệu quả đã tăng vượt bậc và sự suy đồi được loại trừ. Tương tự, tại cơ quan nội vụ của chính quyền Rajasthan, sau khi một số Viên chức nồng cốt tham gia các khóa Vipassana, các quyết định làm việc và các trường hợp bố trí được giải quyết nhanh chóng, và các mối quan hệ làm việc được phát triển.

Viện nghiên cứu thiền Vipassana đã chứng minh bằng tài liệu về những thí dụ khác về kết quả tích cực của ảnh hưởng thiền Vipassana như các lãnh vực sức khỏe, giáo dục, cai nghiện, và tổ chức kinh doanh.

Những kinh nghiệm này nhấn mạnh quan điểm rằng sự chuyển đổi xã hội phải bắt đầu bằng sự chuyển đổi cá nhân. Sự phát triển xã hội không thể được chứng minh chỉ bằng các bài giáo lý; giới luật và đạo đức của các sinh viên không thể được thắm nhuần chỉ một số bài giảng qua sách giáo khoa. Những tội phạm sẽ không trở thành công dân tốt vì sợ hãi hành phạt; sự bất hòa về giai cấp và đảng phái không thể được loại trừ bằng thước đo hình phạt. Lịch sử cho thấy nhiều sai lầm về cách làm như vầy.

Cá nhân là chìa khóa: anh ta hoặc cô ta phải đuợc cư xử với tình thương và lòng từ; anh ta phải được luyện tập để phát triển bản thân không phải bằng những sự khuyên bảo để làm theo các giới điều đạo đức, mà bằng được thấm nhuần với ước mong thành thật để chuyển đổi. Anh ta phải được dạy để khám phá chính mình, để tham gia một tiến trình có thể mang lại sự chuyển đổi, và dẫn đến sự thanh tịnh hóa về tâm. Đây là sự chuyển đổi duy nhất sẽ được duy trì.
Vipassana có khả năng chuyển đổi tâm tính con người. Cơ hội đang chờ đợi mọi người mong muốn nhiệt thành để nổ lực thực hành.

Người dịch: Thích Minh Diệu 
Nguồn: Thư viện Hoa Sen

chia sẻ sách pdf về thiền:
https://www.dropbox.com/home/S%C3%A1ch/Phat%20Hoc/ThienMinhsat




Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2016

NHỮNG THIÊN THẦN CHẮP CÁNH CHO THIÊN TÀI



Nguồn: Phan Viet Hung
(Mới đọc được trên mạng Nga một câu chuyện có thật này, xin dịch nhanh chia sẻ để chúng ta cùng biết trên Trái đất này, lòng tốt, tình bạn có thể làm được những điều tuyệt vời như thế nào)

Câu chuyện xảy ra ở một ngôi trường ở thủ đô Moskva, đầu thập niên 20.

Ngày nọ, các bạn nhỏ trong lớp không thấy bạn Liova đi học. Một tuần, rồi hai tuần trôi qua...Nhà Liova không có điện thoại, và theo lời khuyên của cô giáo chủ nhiệm, cả lớp đến nhà cậu bạn của mình xem tình hình ra sao.

Cô Tatyana Andreevna, mẹ của Liova ra mở cửa. Khuôn mặt cô hết sức buồn bã. Cả bọn liền nhao nhao hỏi:" Cô ơi, tại sao bạn Liova không đi học ạ?". Cô Tatyana đáp:

-Liova không thể đi học cùng các cháu được nữa. Các bác sĩ đã mổ mắt cho Liova nhưng không thành công. Liova đã bị mù và không thể tự đi được nữa, các cháu ạ.

Bọn trẻ nín lặng. Bỗng ai đó cất tiếng:

-Bọn cháu sẽ thay phiên nhau đưa bạn ấy đi học ạ.

Rồi cả bọn thay nhau nói:

-Chúng cháu đưa bạn ấy về nhà nữa.

-Bọn cháu sẽ giúp bạn ấy làm bài tập về nhà...

Người mẹ của Liova ứa nước mắt nhìn bọn trẻ. Cô đưa bọn trẻ vào phòng. Lát sau, Liova rờ rẫm bước ra, hai tay sờ soạng tìm đường. Mắt cậu băng kín mít. Thấy thế, đứa nào cũng sững người, có lẽ đến lúc này, chúng mới hiểu người bạn của mình đang gặp sự bất hạnh lớn lao đến nhường nào.

Liova cất tiếng nặng nhọc:"Chào các cậu!". Bọn trẻ liền nhao nhao:"Ngày mai tớ sẽ đến đưa cậu đi học", "Tớ sẽ giảng môn Đại số cho cậu", "Còn tớ, sẽ giúp cậu môn Lịch sử"....

Liova chả biết nghe lời bạn nào trước, cứ bối rối gật đầu Mẹ của cậu đầm đìa nước mắt khi chứng kiến cảnh đó.

Rời khỏi nhà Liova, cả lớp lên kế hoạch giúp đỡ người bạn không may của mình. Ai sẽ đến đón, ai đưa về, ai giảng lại môn nào cho bạn, ai sẽ đi dạo cùng Liova và đưa bạn ấy đến trường.

...Ở trường, cậu bạn ngồi cạnh Liova thường xuyên thì thào nói lại với cậu những gì thầy giáo viết trên bảng. Và rồi, mỗi khi Liova được gọi trả lời, cả lớp dường như nín thở. Cả lớp ai cũng vui mừng mỗi khi cậu đạt được điểm tốt (điểm 5 theo thang điểm Liên Xô), thậm chí còn vui hơn khi chính mình được điểm cao.

Liova học rất tốt. Cả lớp của Liova cũng học tốt dần lên. Là bởi vì, muốn giải thích, phụ đạo cho bạn, thì trước tiên phải nắm vững bài đã. Cả bọn ai cũng cố gắng. Mùa đông, các bạn còn đưa Liova đi trượt băng. Biết bạn mình yêu nhạc cổ điển, nhiều lúc cả lớp đi nghe hòa nhạc cùng cậu...

Liova tốt nghiệp phổ thông với bằng hạng ưu và học tiếp lên đại học. Ở đó, Liova có những người bạn mới, và họ lại tiếp tục giúp đỡ cậu (nguyên văn: họ trở thành đôi mắt của cậu). Sau khi tốt nghiệp đại học, Liova học dần lên, và cuối cùng, cậu bé mù ngày nào đã trở thành nhà toán học nổi tiếng thế giới, viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô Pontryagin.

Không phụ lòng tốt, lòng tin của những người bạn học tốt bụng của mình, Liova- Lev Semyonovich Pontryagin (1908-1988) đã trở nên một trong những nhà toán học, được đánh giá là vĩ đại nhất thế kỷ XX.

VIẾT THÊM:

Theo wiki, L.S.Pontryagin đã có những đóng góp lớn lao trong lĩnh vực hình học tôpô, (với đề xuất vấn đề cơ bản về lý thuyết đồng đều trong), đặt nền móng cho lý thuyết trừu tượng của biến đổi Fourier, mà ngày nay được gọi là tính đối ngẫu Pontryagin (mang tên ông).

Những nghiên cứu sau này của ông tập trung vào lý thuyết điều khiển tối ưu. Nguyên lý cực đại của ông là cơ sở cho lý thuyết tối ưu hiện đại.

L.S.Pontryagin đã được Nhà nước Liên Xô trao những giải thưởng danh giá: giải thưởng Stalin, giải thưởng Lenin, giải thưởng nhà nước Liên Xô, giải thưởng Lobachevsky, 4 lần nhận Huân chương Lenin và được nhận nhiều huân chương danh giá khác. Ông là Anh hùng lao động XHCN, Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô.

Ông là Phó chủ tịch Hội toán học quốc tế (1970-1974), thành viên danh dự Hội toán học London, viện sĩ danh dự Viện hàn lâm khoa học Hungary.

Ông có vợ, nhưng không có con.

"Lòng tốt, dân tộc nào, thời nào cũng có. Nền giáo dục và thực tế cuộc sống đã giúp khơi dậy lòng tốt đó"

Thứ Hai, 31 tháng 10, 2016

NHỮNG HIỂU LẦM VỀ ĐẠO PHẬT


Đạo Phật ngày càng suy đồi, tha hoá, “mạt pháp”, nguyên nhân thì nhiều, nhưng đôi khi vì trong giới tu sĩ và cư sĩ không trang bị đủ kiến thức của giáo pháp như thực - tức là giáo pháp cội rễ - mà chỉ chạy theo cành, nhánh, ngọn lắm hoa và nhiều trái. Từ đấy, khó phân biệt đâu là đạo Phật chân chánh, đâu là đạo Phật đã bị biến chất, chạy theo thị hiếu dung thường của thế gian. Đôi nơi đạo Phật còn bị trộn lẫn với tín ngưỡng duy linh và cả tín ngưỡng nhân gian nữa... Nhiều lắm, không kể xiết đâu.
Với cái nhìn “chủ quan” của một tu sĩ Theravāda, tôi xin mạo muội liệt kê ra đây những hiểu lầm tai hại và rất phổ biến của Phật giáo trong và ngoài nước để chư vị thức giả cùng thấy rõ như thực:
1 - Tôn giáo
Đạo Phật có những sinh hoạt về tôn giáo nhưng đạo Phật không phải là tôn giáo, vì đạo Phật không có một vị thượng đế tối cao hoá sinh muôn loài và có quyền ban thưởng, phạt ác.
2 - Tín ngưỡng: 
Đạo Phật có những sinh hoạt tín ngưỡng nhưng đạo Phật không phải là tín ngưỡng để mọi người đến van vái, cầu xin những ước mơ dung tục của đời thường.
3 - Triết học: 
Đạo Phật có một hệ thống tư tưởng được rút ra từ Kinh, Luật và Abhidhamma, được gọi là “như thực, như thị thuyết” chứ không phải là một bộ môn triết học “chia” rồi “chẻ”, “phán” rồi “đoán” như của Tây phương.
4 - Triết luận: 
Đạo Phật có tuệ giác để thấy rõ Cái Thực chứ không sử dụng lý trí phân tích, lý luận. Còn triết, còn luận là vì chưa thấy rõ Cái Thực. Đạo Phật là đạo như chơn, như thực. Kinh giáo của đức Phật luôn đi từ cái thực cụ thể để hướng dẫn mọi người tu tập, nó không có triết, có luận đâu. Ngay “thiền” mà còn “luận”(thiền luận) là đã đánh mất thiền rồi.
5 - Từ thiện xã hội: 
Đạo Phật có những sinh hoạt từ thiện xã hội nhưng không coi từ thiện xã hội là tất cả, để hy sinh cuộc đời đầu tròn, áo vuông một cách uổng phí. Đạo Phật còn có những sinh hoạt cao cả hơn: Đó là giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, tu tập thiền định và thiền tuệ nữa. Từ thiện xã hội thì ai cũng làm được, thậm chí người ta còn làm tốt hơn cả Phật giáo, ví dụ như Bill Gates. Còn giáo dục, văn hoá, nghệ thuật của đạo Phật là nền tảng Mỹ Học viết hoa (nội hàm các giá trị nhân văn, nhân bản) mà không một tôn giáo, môt chủ nghĩa, một học thuyết nào trên thế gian có thể so sánh được. Và đây mới là sự phụng hiến cao đẹp của đạo Phật cho thế gian. Còn nữa, nếu không có tu tập thiền định và thiền tuệ thì mọi hình thái sinh hoạt của đạo Phật, xem ra không phải là của đạo Phật đâu!
6 - Cực lạc, cực hạnh phúc: 
Đạo Phật có nói đến hỷ, lạc trong các tầng thiền; có nói đến hạnh phúc siêu thế khi ly thoát tham sân, khổ lạc (dukkha), phiền não của thế gian - chứ không có một nơi chốn cực lạc, cực hạnh phúc được phóng đại như thế.
7 - Tám vạn bốn ngàn pháp môn: 
Đạo Phật có nói đến 8 vạn 4 ngàn pháp uẩn (dhammakhandha) chứ không nói đến 8 van 4 ngàn pháp môn (dhammadvāra). Uẩn (khandha) ngoài nghĩa che lấp, che mờ và nghĩa chồng lên, chồng chất, còn có nghĩa là nhóm, liên kết, tập hợp ví như Giới uẩn (nhóm giới), Định uẩn (nhóm định), Tuệ uẩn (nhóm tuệ). Do từ uẩn (khandha) lại dịch lệch ra môn - cửa (dvāra), pháp môn nên ai cũng tưởng là có 8 vạn 4 ngàn pháp môn, tu theo pháp môn nào cũng được! Ai là người có thể đếm đủ 8 vạn, 4 ngàn cửa pháp này? Còn nữa, xin lưu ý, 8 vạn 4 ngàn chỉ là con số tượng trưng, có nghĩa là nhiều lắm, đếm không kể xiết theo truyền thống tôn giáo và tín ngưỡng Ấn Độ cổ. Ví dụ 84 ngàn lỗ chân lông, 84 ngàn vi trùng trong một bát nước, 84 ngàn phiền não, 84 ngàn cách tu...
8 - Xin xăm, bói quẻ, cầu sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu:
Những hình thức này không phải của đạo Phật. Trong kinh tụng Pāli có đoạn: “Sunakkhataṃ sumaṅgalaṃ supabhātaṃ suhuṭṭhitaṃ, sukhno ca suyiṭṭaṃ brahmacārisu. Padakkhinaṃ kāyakammaṃ vācākammaṃ padakkhinaṃ padakkhinaṃ manokammaṃ paṇidhī te padakkhinā...”
Có nghĩa là: Giờ nào (chúng ta) thực hành thân, khẩu, ý trong sạch; giờ đó được gọi là vận mệnh tốt, là giờ tốt, là khắc tốt, là canh tốt... Ngày đó gọi là có nghiệp thân phát đạt, nghiệp khẩu phát đạt, nghiệp ý phát đạt. Và nguyện vọng theo đó được gọi là nguyện vọng phát đạt. Người tạo nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý phát đạt như thế rồi sẽ được những lợi ích phát đạt (chữ phát đạt có thể có thêm nghĩa nhiêu ích).
9 - Định mệnh:
Đạo Phật có nói đến nghiệp, đến nhân quả nghiệp báo chứ không hề nói đến định mệnh. Theo đó, gây nhân xấu ác thì gặt quả đau khổ, gây nhân lành tốt thì gặt quả an vui - chứ không phải “cái tơ cái tóc cũng do trời định” như định mệnh thuyết của Khổng Nho hoặc định mệnh 4 giai cấp của Bà-la-môn giáo.
10 - Siêu độ, siêu thoát:
Không có bài kinh nào, không có uy lực của bất kỳ ông sư, ông thầy nào có thể tụng kinh siêu độ, siêu thoát cho hương linh, vong linh, chân linh cả. Thời Phật tại thế, nếu có đến nơi người mất, chư tăng chỉ đọc những bài kệ vô thường, khổ và vô ngã để thức tỉnh người sống; và hiện nay các nước Phật giáo Theravāda còn duy trì.
Có thể có hai trường hợp:
- Nếu vừa chết lâm sàng thì thần thức người chết vẫn còn. Vậy có thể đọc kinh, mở băng kinh, chuông mõ, hương trầm... để “thần thức người chết” hướng về điều lành... để thần thức tự tạo “cận tử nghiệp” tốt cho mình.
- Nếu thần thức đã lìa khỏi thân rồi – thì họ đã tái sanh vào cõi khác rồi, ngay tức khắc. Khi ấy thì gia đình làm phước để chư tăng tụng kinh hồi hướng phước ấy cho người đã mất.
Cả hai trường hợp trên đều không hề mang ý nghĩa siêu độ, siêu thoát mà chỉ có ý nghĩa gia hộ, gia niệm, gia lực mà thôi. Tu dựa vào tha lực cũng tương tự như vậy, nhưng cuối cùng cũng phải tự lực: “Tự mình thắp đuốc mà đi, tự mình là hòn đảo của chính mình”.
Chư thiên chỉ có khả năng hoan hỷ phước và báo truyền thông tin ấy cho người quá vãng mà thôi. Họ không có uy lực ban phước lành cho ai cả.
11 - Huyền bí, bí mật: 
Giáo pháp của đức Phật không có cái gì được gọi là huyền bí, bí mật cả. Đức Phật luôn tuyên bố là “Như Lai thuyết pháp với bàn tay mở ra”; có nghĩa là Ngài không có pháp nào bí mật để giấu kín cả!
12 - Tâm linh: 
Ngày nay, người ta tràn lan lễ hội, tràn lan mọi loại điện thờ với những hình thức mê tín, dị đoan, sa đọa văn hoá... mà ở đâu cũng rêu rao là các giá trị tâm linh. Đạo Phật không hề có các kiểu tâm linh như vậy. Thuật ngữ tâm linh này được du nhập từ Trung Quốc. Và rất tiếc, tôi không hề tìm ra nguồn Phật học Pāli hay Sanskrit có từ nào tương thích với chữ “linh” này cả!
13 - Niết-bàn:
Nhiều người tưởng lầm Niết-bàn là ở một cõi nào đó, một nơi chốn nào đó; thậm chí là ở một thế giới ở ngoài thế gian này. Người nào tìm kiếm Niết-bàn kiểu ấy, thuật ngữ thiền tông có cụm từ “lông rùa, sừng thỏ” như ngài Huệ Năng đã nói rõ:
“Phật pháp tại thế gian.
Bất lý thế gian giác.
Ly thế mịch bồ-đề.
Cáp như tầm thố giác”.
Thố giác là sừng thỏ. Và giác ngộ cũng vậy, chính ở trong khổ đau, phiền não mới giác ngộ bài học được.
14 - Bỏ khổ, tìm lạc: 
Tu Phật không phải là bỏ khổ, tìm lạc. Xin lưu ý cho: Khổ và Lạc chính là căn bản của phiền não!
15 - Tu để được cái gì! 
Có nhiều người nghĩ rằng, tu là để được cái gì đó. Xin thưa, được cái gì là sở đắc. Ai sở đắc? Chính là bản ngã sở đắc. Đạo Phật là vô ngã.
16 - Tu là sửa:
Nếu tu là sửa thì mình đã từ “cái ta này” biến thành “cái ta khác”. Nếu tu là không sửa thì cứ để nguyên trạng tham sân si như vậy hay sao? Xin thưa, sửa hay không sửa đều trật. Đạo Phật quan trọng ở Cái Thấy! Có Cái Thấy mới nói đến giác ngộ và giải thoát. Không có Cái Thấy này thì tu kiểu gì cũng trệch hướng hoặc rơi vào phước báu nhân thiên.
17 - Vía: Đạo Phật không có vía nào cả. Vía, hồn, phách là quan niệm của nhân gian. Ví dụ, ba hồn bảy vía. Ví dụ, nam thất, nữ cửu – nam bảy vía, nữ chín vía. Nếu là nam thất, nữ cửu thì nó trùng với nam 7 khiếu, nữ 9 khiếu. Vía là phần hồn. Không có cái hồn, cái linh hồn tự tồn tại nếu không có chỗ nương gá. Vía không độc lập được. Như danh (phần tâm) và sắc (phần thân) - chúng luôn nương tựa vào nhau. Chỉ có năng lực thiền định mới tạm thời tách lìa danh ra khỏi sắc, như cõi trời Vô tưởng của tứ thiền. Tuy nhiên, cõi trời Vô tưởng hữu tình này không phải là không có danh tâm mà chúng ở dạng tiềm miên. Còn các cõi trời Vô sắc thì sắc không phải là không có, chúng cũng ở dạng tiềm miên. Thật đáng phàn nàn, Phật và Bồ-tát đều có “vía” cả! Và cũng thật là“đau khổ” khi trong lễ an vị Phật, người ta còn hô “Thần nhập tượng” nữa chứ!
18 - Bồ-tát:
 Bồ-tát là âm của chữ Bodhisatta: Chúng sanh có trí tuệ. Vậy, chúng ta tạm thời bỏ quên “khái niệm Bồ-tát” quen thuộc trong kinh điển mà trở về với nghĩa gốc là “chúng sanh có trí tuệ”. Và như vậy, sẽ có hạng chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Thanh Văn; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Độc Giác; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Chánh Đẳng Giác. Ngoài 3 loại chúng sanh có trí tuệ trên – không có loại chúng sanh có trí tuệ nào khác.
19 - Phật: 
Phật là âm của chữ Buddha, nghĩa là Bậc đã Giác ngộ. Vậy chúng ta nên tạm thời bỏ quên “khái niệm Phật” từ lâu đã mọc rễ trong tâm thức mà trở về nghĩa gốc là Bậc Giác ngộ. Vậy người nào giác ngộ do nghe pháp từ bậc Chánh Đẳng Giác thì được gọi là Thanh Văn Giác, người nào giác ngộ do tự mình tu tập vào thời không có đức Chánh Đẳng Giác, được gọi là Độc Giác. Có vị giác ngộ do trọn vẹn 30 ba-la-mật, trọn vẹn minh và hạnh nên gọi là Chánh Đẳng Giác. Không có vị Giác ngộ (Phật) nào ngoài 3 loại Giác ngộ trên.
20 - Thể nhập:
Tu là không thể nhập vào cái gì cả. Thể nhập là bỏ cái ngã này để nhập vào cái ngã khác. Cái ngã khác ấy có thể là dòng sông, có thể là ngọn núi, có thể là một cội cây, có thể là một thần linh, thượng đế. Cái cụm từ “thể nhập pháp giới” rất dễ bị hiểu lầm. Khi đi phải chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái đi; Khi nói phải chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái nói; Khi ăn phải chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái ăn – thì đấy mới đúng nghĩa “thể nhập pháp giới”, ngay giây khắc ấy, mọi tham sân, phiền não không có chỗ để phân duyên, sanh khởi.
Ngoạ Tùng Am, Sơ Xuân 2015
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
(Tỳ khưu Giới Đức)

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2016

Vì sao ở hiền không gặp lành mà toàn đau khổ?

***** Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương ứng. Nếu một người trong nội tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm giác thống khổ *****

Tôi đã tìm một người thầy thông thái và đạo hạnh xin chỉ bảo:

- Vì sao những người lương thiện như con lại thường xuyên cảm thấy khổ, mà những người ác lại vẫn sống tốt như vậy

Thầy hiền hòa nhìn tôi trả lời:

- Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương ứng. Nếu một người trong nội tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm giác thống khổ. Vì thế, căn cứ theo đạo lý này, con thường cảm thấy khổ, nghĩa là nội tâm của con có tồn tại điều ác, con không phải là một người lương thiện thật sự. Mà những người con cho rằng là người ác, lại chưa hẳn là người thật sự ác.

Một người có thể vui vẻ mà sống, ít nhất nói rõ người này không phải là người ác thật sự.


Có cảm giác như bị xúc phạm, tôi không phục, liền nói:

- Con sao có thể là người ác được? Gần đây, tâm con rất lương thiện mà!

Thầy trả lời:

- Nội tâm không ác thì không cảm thấy khổ, con đã cảm thấy khổ, nghĩa là trong tâm con đang tồn tại điều ác. Con hãy nói về nỗi khổ của con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn tại trong con.

Tôi nói:

- Nỗi khổ của con thì rất nhiều! Có khi cảm thấy tiền lương thu nhập rất thấp, nhà ở cũng không đủ rộng, thường xuyên có “cảm giác thua thiệt” bởi vậy trong tâm con thường cảm thấy không thoải mái, cũng hy vọng mau chóng có thể cải biến tình trạng này; trong xã hội, không ít người căn bản không có văn hóa gì, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục; một trí thức văn hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu nhập, thật sự là không công bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái…

Cứ như vậy, lần lượt tôi kể hết với thầy những nỗi thống khổ của mình.

Thầy gật đầu, mỉm cười, một nụ cười rất nhân từ đôn hậu, người từ tốn nói với tôi:

Thu nhập hiện tại của con đã đủ nuôi sống chính con và gia đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn bản là đã không phải lưu lạc nơi đầu đường xó chợ, chỉ là diện tích hơi nhỏ một chút, con hoàn toàn có thể không phải chịu những khổ tâm ấy.

- Nhưng, bởi vì nội tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm, nếu con có thể vứt bỏ ác tâm ấy, con sẽ không vì những điều đó mà cảm thấy khổ nữa.

Trong xã hội có nhiều người thiếu văn hóa nhưng lại phát tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị cũng là một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn hóa, nên cần phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngạo mạn. Tâm ngạo mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn hóa thì phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngu si; bởi vì văn hóa không phải là căn nguyên của sự giàu có, kiếp trước làm việc thiện mới là nguyên nhân cho sự giàu có của kiếp này. Tâm ngu si cũng là ác tâm!

Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái, đây là không rộng lượng. Dẫu là người thân của con, nhưng họ vẫn có tư tưởng và quan điểm của riêng mình, tại sao lại cưỡng cầu tư tưởng và quan điểm của họ bắt phải giống như con? Không rộng lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi. Tâm hẹp hòi cũng là ác tâm.

Sư phụ tiếp tục mỉm cười:

- Lòng tham, tâm đố kỵ, ngạo mạn, ngu si, hẹp hòi, đều là những ác tâm. Bởi vì nội tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những thống khổ mới tồn tại trong con. Nếu con có thể loại trừ những ác tâm đó, những thống khổ kia sẽ tan thành mây khói.”

Con đem niềm vui và thỏa mãn của mình đặt lên tiền thu nhập và của cải, con hãy nghĩ lại xem, căn bản con sẽ không chết đói và chết cóng; những người giàu có kia, thật ra cũng chỉ là không chết đói và chết cóng. Con đã nhận ra chưa, con có hạnh phúc hay không, không dựa trên sự giàu có bên ngoài, mà dựa trên thái độ sống của con mới là quyết định. Nắm chắc từng giây phút của cuộc đời, sống với thái độ lạc quan, hòa ái, cần cù để thay thế lòng tham, tính đố kỵ và ích kỷ; nội tâm của con sẽ dần chuyển hóa, dần thay đổi để thanh thản và bình an hơn.

- Trong xã hội, nhiều người không có văn hóa nhưng lại giàu có, con hãy nên vì họ mà vui vẻ, nên cầu chúc họ càng giàu có hơn, càng có nhiều niềm vui hơn mới đúng. Người khác đạt được, phải vui như người đó chính là con; người khác mất đi, đừng cười trên nỗi đau của họ. Người như vậy mới được coi là người lương thiện! Còn con, giờ thấy người khác giàu con lại thiếu vui, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị chính là một loại tâm rất không tốt, phải kiên quyết tiêu trừ!”

Con cho rằng, con có chỗ hơn người, tự cho là giỏi. Đây chính là tâm ngạo mạn. Có câu nói rằng: “Ngạo mạn cao sơn, bất sinh đức thủy” (nghĩa là: ngọn núi cao mà ngạo mạn, sẽ không tạo nên loại nước tốt) người khi đã sinh lòng ngạo mạn, thì đối với thiếu sót của bản thân sẽ như có mắt mà không tròng, vì vậy, không thể nhìn thấy bản thân có bao nhiêu ác tâm, sao có thể thay đổi để tốt hơn. Cho nên, người ngạo mạn sẽ tự mình đóng cửa chặn đứng sự tiến bộ của mình. Ngoài ra, người ngạo mạn sẽ thường cảm thấy mất mát, dần dần sẽ chuyển thành tự ti. Một người chỉ có thể nuôi dưỡng lòng khiêm tốn, luôn bảo trì tâm thái hòa ái từ bi, nội tâm mới có thể cảm thấy tròn đầy và an vui.

- Kiếp trước làm việc thiện mới chính là nguyên nhân cho sự giàu có ở kiếp này, (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu). Mà người thường không hiểu được nhân quả, trồng dưa lại muốn được đậu, trồng đậu lại muốn được dưa, đây là thể hiện của sự ngu muội. Chỉ có người chăm học Phật Pháp, mới có được trí huệ chân chính, mới thật sự hiểu được nhân quả, quy luật tuần hoàn của vạn vật trong vũ trụ, nội tâm mới có thể minh tỏ thấu triệt. Để từ đó, biết làm thế nào lựa chọn tư tưởng, hành vi và lời nói của mình cho phù hợp. Người như vậy, mới có thể theo ánh sáng hướng đến ánh sáng, từ yên vui hướng đến yên vui.”

- Bầu trời có thể bao dung hết thảy, nên rộng lớn vô biên, ung dung tự tại; mặt đất có thể chịu đựng hết thảy, nên tràn đầy sự sống, vạn vật đâm chồi! Một người sống trong thế giới này, không nên tùy tiện xem thường hành vi và lời nói của người khác. Dẫu là người thân, cũng không nên mang tâm cưỡng cầu, cần phải tùy duyên tự tại! Vĩnh viễn dùng tâm lương thiện giúp đỡ người khác, nhưng không nên cưỡng cầu điều gì.

- Nếu tâm một người có thể rộng lớn như bầu trời mà bao dung vạn vật, người đó sao có thể khổ đây?

Vị thầy khả kính nói xong những điều này, tiếp tục nhìn tôi với ánh mắt đầy nhân từ và bao dung độ lượng.

Ngồi im lặng hồi lâu…xưa nay tôi vẫn cho mình là một người rất lương thiện, mãi đến lúc này, phải! chỉ đến lúc này, tôi mới biết được trong tôi còn có một con người rất xấu xa, rất độc ác! Bởi vì nội tâm của tôi chứa những điều ác, nên tôi mới cảm thấy nhiều đau khổ đến thế. Nếu nội tâm của tôi không ác, sao tôi có thể khổ chứ ?

Xin cảm tạ thầy, nếu không được người khai thị dạy bảo, con vĩnh viễn sẽ không biết có một người xấu xa như vậy đang tồn tại trong con!

(st)

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016

ĂN CHAY - ĂN MẶN TRONG ĐẠO PHẬT

#ChiasẻPháp: Liên quan đến ĂN CHAY ĂN MẶN

********************************************

Vị y sĩ hỏi Ðức Phật về thái độ của Ngài đối với việc sát sinh và cách dùng thực phẩm toàn rau quả (trường trai):

- "Bạch Thế tôn! Con nghe nói rằng nhiều súc vật bị giết vì Ngài, và Ngài dùng món thịt đặc biệt dành để cúng dường Ngài, có đúng vậy chăng?

- Nầy Jìvaka! Bất cứ ai nói như vậy là không nói sự thật. Ðúng ra, Ta nói rằng thịt không được nhận làm món khất thực trong 3 trường hợp nếu ta thấy, nghe và nghi ( con vật ấy bị giết vì vị Tỳ kheo nầy) song nếu không phải các trường hợp trên thì vị Tỳ kheo có thể thọ dụng món thịt.

Nếu một vị Tỳ kheo đi khất thực trong thôn xóm hay thị trấn với tâm từ (Mettà) biến mãn khắp mọi chúng sanh và một gia chủ mời vị ấy thọ thực ngày mai, vị ấy có thể nhận lời. Nhưng trong lúc vị ấy đang thọ thực ngày hôm sau tại nhà kia, vị ấy không nên nghĩ là vẫn ước mong được mời một bữa cao lương mỹ vị như vậy thêm lần nữa. Vị ấy nên thọ dụng món khất thực mà không tham đắm lạc thú ẩm thực. Nầy Jìvaka! Ông có nghĩ rằng một Tỳ kheo làm như vậy là tự hại mình và hại người khác không?

- Thưa không, bạch Thế tôn!

- Nầy Jìvaka! Nếu ông nói đến sự cố ý tận diệt của Ta thì điều đó chỉ đúng theo ý nghĩa duy nhất nầy: "Ta đã đoạn diệt tham, sân, si ở trong Ta khiến cho chúng không thể sanh khởi được nữa trong tương lai. Bất cứ kẻ nào sát sanh vì Ta hay một đệ tử của Ta sẽ phạm một ác nghiệp gồm có 5 phần, đó là dẫn con vật đi. hành hạ nó (lúc lôi kéo), giết chết nó và do vậy hành hạ nó thêm lần nữa và cuối cùng là cúng dường Ta và đệ tử Ta không đúng chánh pháp". (lược thuật Trung bộ số 55, kinh Jìvaka, HT Thích Minh Châu dịch)

********************************************

Phật nói về "thức ăn hôi thối" thức đồ ăn không thanh tịnh, không sạch, người đời thường đánh đồng là "ăn mặn". Hãy đọc kỹ bài kệ này.
---
Thức ăn hôi thối

Sát sanh và hành hình,
Ðả thương và bắt trói,
Trộm cắp và nói láo,
Man trá và lừa đảo,
Giả bộ kẻ học thức,
Ði lại với vợ người,
Ðây là đồ ăn thối,
Ăn thịt không phải thối.

Ở đời, các hạng người,
Không chế ngự lòng dục,
Ðam mê các vị ngon,
Liên hệ đến bất tịnh,
Theo chủ nghĩa hư vô,
Bất chánh khó hướng dẫn,
Ðây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối.

Ai thô bạo, dã man,
Sau lưng nói gièm pha,
Phản bạn không từ bi,
Lại cống cao ngạo mạn,
Tánh không có bố thí,
Không cho ai vật gì,
Ðây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối,

Phẫn nộ và kiêu mạn,
Cứng đầu và chống đối
Man trá và tật đố,
Nói vô ích, huênh hoang,
Kiêu mạn và quá mạn,
Thân mật với kẻ ác,
Ðây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối,

Ác giới, nợ không trả,
Làm người điểm chỉ viên,
Làm những nghề dối trá,
Ở đây, kẻ giả vờ,
Ở đây người bần tiện,
Những người làm ác nghiệp,
Ðây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối.

Ở đời, các hạng người,
Không chế ngự lòng dục,
Ðam mê các vị ngon,
Liên hệ đến bất tịnh,
Theo chủ nghĩa hư vô,
Bất chánh khó hướng dẫn,
Ðây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối.

Hạng tham ô, thù nghịch,
Tìm cách để giết hại,
Luôn luôn hướng về ác,
Sau chết sanh tối tăm,
Chúng sanh ấy rơi vào,
Ðịa ngục đầu xuống trước.
Ðây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối.

(Tiểu bộ kinh 1. Chương 2 - Tiểu Phẩm. Kinh hôi thối (Amagandha))
********************************************

Phật không nói về ăn chay nhưng Phật thuyết về ăn uống tiết độ:

Ăn Uống Tiết độ:

Con người thường chánh niệm,
Ðược ăn, biết phải chăng,
Chừng mực, cảm thọ mạnh,
Già chậm, tuổi thọ dài.
(Bài kệ này Đức Phật nói với đức vua Pasenadi của vương quốc Kosala, do vị vua này bị thói ăn uống vô độ làm cho khổ sở)
********************************************

Thế nào là TIẾT CHẾ ĂN UỐNG:

"Chúng ta phải biết tiết độ trong ăn uống, với chánh tư duy, chúng ta thọ thực (ăn), không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy chúng ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, và chúng ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: "Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh và các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa". Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

Đức Thế Tôn nói kệ:
Người ưa ngủ, ăn lớn,
Nằm lăn lóc qua lại,
Chẳng khác heo no bụng,
Kẻ ngu nhập thai mãi.

********************************************

Và tại sao các Đức Phật đều chọn nghề Khất thực để nuôi mạng sống?
Nghề Khất thực: (Tung Uong Tap 3-22d)
18) Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:

-- Này các Tỷ-kheo, đây là nghề sinh sống hèn hạ nhất, tức là nghề khất thực. Ðây là một lời nguyền rủa trong đời, này các Tỷ-kheo, khi nói: "Ông, kẻ khất thực với bát trên bàn tay, Ông đi chỗ này, chỗ kia và đấy là nghề sinh sống". Này các Tỷ-kheo, điều mà các thiện gia nam tử chấp nhận là những vị sống vì lý tưởng mục đích, duyên với lý tưởng mục đích; không phải vì ma cưỡng ép, không phải vì trộm cướp cưỡng ép, không phải vì thiếu nợ, không phải vì sợ hãi, không phải vì không có nguồn sinh sống, mà với ý nghĩ: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị chìm đắm trong đau khổ, bị đoanh vây bởi đau khổ. Rất có thể, sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này được tìm ra".

>>> Các vị khất sỹ xưa, chỉ ăn ngày 1 bữa và không quá Ngọ, nếu qua ngọ mà không khất thực được đồ ăn thì chấp nhận nhịn đói hôm đó.

Ngoài ra, theo mình khi đi khất thực cũng là duyên lành để cho chúng sanh có dịp tạo phước cho mình. Các vị Tỷ kheo giữ giới nghiêm ngặt, hay các vị Arahat hay Tối Thượng là Đức Phật được ví như "Phước Điền vô thượng ở đời". (mình sẽ tổng hợp vấn đề này sau)

********************************************
Ai có kiến thức về nông nghiệp, ai đã từng đi cuốc đất trồng rau trồng lạc hay không xa rời tự nhiên, thì bạn sẽ hiểu để có đồ ăn chay sẽ không có chuyện không sát sinh, bạn ăn không thấy thịt, không tự tay giết chóc, nhưng bản thân sự gieo cấy, đã có cả 1 loạt sự sát sinh rồi, chỉ có điều bạn không đi đến tận cùng nguồn gốc của thức ăn thôi. Vì sao có mùa an cư kiết hạ 3 tháng?

Ăn chay thì dễ, cả một tuổi thơ mình đã ăn :) nhưng ăn ít, ngày 1 bữa và tiết độ như một thiền sinh thì thật khó khăn. Thay vì ăn chay thường xuyên, hãy học cách ăn trong chánh niệm. Ý thức được nhu cầu thực sự của mình; học cách phân biệt giữa muốn và cần. Đào luyện cơ thể không phải là tự hành hạ mình. Bớt ngủ, bớt ăn đôi lúc có vẻ cực đoan, nhưng nó có giá trị của nó. Bạn phải thực sự muốn chống lại sự biếng nhác và phiền não.

Nếu ăn chay và ăn không cầu kỳ, ăn đủ thì càng tốt. Nhưng mình thì theo hướng ăn uống đơn giản nhất và tiện lợi nhất là được.

Mình đã thôi ăn tối hơn 1 năm rồi, gần như chỉ có bữa trưa là ăn bình thường, tất nhiên là không cực đoan, lúc nào vì công việc, bạn bè gặp gỡ, hay về nhà cùng bố mẹ, mình vẫn ăn uống bình thường, không gây phiền muộn lo lắng cho người khác. Một cách thanh lọc cơ thể rất tốt.

********************************************
Giới thiệu 2 bài kệ ngắn, có thể giúp bạn ít nhiều cái thói thèm ăn, ăn vô độ:

Thời vua Lương Võ Đế có Hòa Thượng Chí Công, vốn là một vị cao tăng đã đắc Ngũ nhãn Lục thông, tiền nhân hậu quả nhất nhất đều biết rõ ràng. Lần nọ, có một gia đình hào phú tổ chức tiệc cưới cho con và thỉnh Hòa Thượng Chí Công đến tụng kinh. Bấy giờ, Hòa Thượng vừa đặt chân đến ngạch cửa đã than rằng:

“Lạ lạ thay! Quái quái kỳ!
Đứa cháu cưới bà nội,
Heo dê ngồi bàn tiệc,
Quyến thuộc nấu trong nồi.
Con gái ăn thịt mẹ,
Con trai đánh da cha.
Khách khứa đến chúc mừng,
Ta thấy thật là khổ!”

Khi con người còn vô minh thì sẽ không tin điều này đâu, nhưng hãy suy niệm hãy tự mình tìm lấy câu trả lời. Điều này không vô lý, cũng không phải là một sự dọa dẫm, chỉ đơn giản, ta chưa đến đc tầm hiểu biết đó.

********************************************
Ngàn năm oán hận ngập bát canh,
Oán sâu như biển hận khó tan.
Muốn biết vì sao có chiến tranh,
Hãy nghe lò thịt, lúc nửa đêm!

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

Ba Câu Hỏi -3 Questions

LEO TOLSTOY

Ba Câu Hỏi
Thích Nhất Hạnh dịch
********

Ðó là chuyện ba câu hỏi khó của một nhà vua, do nhà văn hào Leo Tolstoy kể lại.

Nhà vua ấy, Tolstoy không biết tên. Một hôm đức Vua nghĩ rằng, giá mà vua trả lời được ba câu hỏi ấy thì vua sẽ không bao giờ bị thất bại trong bất cứ công việc nào. Ba câu hỏi ấy là:

1. Làm sao để biết được thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc?

2. Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật quan trọng nhất mà ta phải chú trọng?

3. Làm sao để biết được công việc nào là công việc cần thiết nhất mà ta phải thực hiện?

Nghĩ thế, vua liền ban chiếu ra khắp trong bàn dân thiên hạ, hứa rằng sẽ ban thưởng trọng hậu cho kẻ nào trả lời được những câu hỏi đó.

Các bậc hiền nhân đọc chiếu liền tìm tới kinh đô. Nhưng mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời khác nhau.

Về câu hỏi thứ nhất, có người trả lời rằng muốn biết thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc thì phải làm thời biểu cho đàng hoàng, có ngày giờ năm tháng và phải thi hành cho thật đúng thời biểu ấy. Như vậy mới mong công việc làm đúng lúc. Kẻ khác thì lại nói không thể nào dự tính được trước những việc gì phải làm và thời gian để làm những việc ấy; rằng ta không nên ham vui mà nên chú ý đến mọi sự khi chúng xẩy tới để có thể làm bất cứ gì xét ra cần thiết.

Có kẻ lại nói rằng, dù vua có chú ý đến tình hình mấy đi nữa thì một mình vua cũng không đủ sáng suốt để định đoạt thời gian của mọi việc làm một cách sáng suốt, do đó nhà vua phải thành lập một Hội Ðồng Nhân Sĩ và hành động theo lời khuyến cáo của họ.

Lại có kẻ nói rằng, có những công việc cần phải lấy quyết định tức khắc không thể nào có thì giờ để tham khảo xem đã đến lúc phải làm hay chưa đến lúc phải làm. Mà muốn lấy quyết định cho đúng thì phải biết trước những gì sẽ xẩy ra, do đó, nhà vua cần phải cần đến những nhà cố vấn tiên tri và bốc phệ.

Về câu hỏi thứ hai, cũng có nhiều câu trả lời không giống nhau. Có người nói những nhân vật mà vua cần chú ý nhất là những ông đại thần và những người trong triều đình. Có người nói là mấy ông Giám Mục, Thượng Tọa là quan hệ hơn hết. Có người nói là mấy ông tướng lãnh trong quân đội là quan hệ hơn hết.

Về câu hỏi thứ ba, các nhà thức giả cũng trả lời khác nhau. Có người nói khoa học là quan trọng nhất. Có người nói tôn giáo là quan trọng nhất. Có người lại nói: chỉnh trang quân đội là quan trọng nhất.

Vì các câu trả lời khác nhau cho nên nhà vua không thể đồng ý với vị hiền nhân nào cả, và chẳng ban thưởng cho ai hết.

Sau nhiều đêm suy nghĩ vua quyết định đi chất vấn một ông đạo tu trên núi, ông đạo này nổi tiếng là có giác ngộ. Vua muốn tìm lên trên núi để gặp ông đạo và hỏi ba câu hỏi kia.

Vị đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi ông ta ở chỉ có những người dân nghèo; chẳng bao giờ ông chịu tiếp người quyền quý. Vì vậy mà nhà vua cải trang làm thường dân. Khi đi đến chân núi, vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới, và một mình vua, trong y phục một thường dân, vua trèo lên am của ông đạo.

Nhà vua gặp ông đạo đang cuốc đất trước am. Khi trông thấy người lạ, ông đạo gật đầu chào rồi tiếp tục cuốc đất. Ông đạo cuốc đất một cách nặng nhọc bởi ông đã già yếu; mỗi khi cuốc lên được một tảng đất hoặc lật ngược được tảng đất ra thì ông lại thở hào hển.

Nhà vua tới gần ông đạo và nói: "Tôi tới đây để xin ông đạo trả lời giúp cho tôi ba câu hỏi. Làm thế nào để biết đúng thì giờ hành động, đừng để cho cơ hội qua rồi sau phải hối tiếc? Ai là những người quan trọng nhất mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả? Và công việc nào quan trọng nhất cần thực hiện trước tiên?"

Ông đạo lắng nghe nhà vua nhưng không trả lời. Ông chỉ vỗ vai nhà vua và cúi xuống tiếp tục cuốc đất.

Nhà vua nói: "Ông đạo mệt lắm rồi, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc một lát". Vị đạo sĩ cám ơn và trao cuốc cho Vua rồi ngồi xuống đất nghỉ mệt. Cuốc xong được hai vồng đất thì nhà vua ngừng tay và lập lại câu hỏi. Ông đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy và đưa tay ra đòi cuốc, miệng nói: "Bây giờ bác phải nghỉ, đến phiên tôi cuốc". Nhưng nhà vua thay vì trao cuốc lại cúi xuống tiếp tục cuốc đất.

Một giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua. Rồi mặt trời bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay, buông cuốc, và nói với ông đạo:

"Tôi tới để xin ông đạo trả lời cho mấy câu hỏi. Nếu ông đạo không thể trả lời cho tôi câu nào hết thì xin cho biết để tôi còn về nhà".

Ông đạo nghe tiếng chân người chạy đâu đây bèn nói với nhà vua: "Bác thử xem có ai chạy lên kìa". Nhà vua ngó ra thì thấy một người có râu dài đang chạy lúp xúp sau mấy bụi cây, hai tay ôm bụng. Máu chảy ướt đầm cả hai tay. Ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu giữa đất, nằm im bất động miệng rên ri rỉ.

Vua và ông đạo cởi áo người đó ra thì thấy có một vết đâm sâu nơi bụng. Vua rửa chỗ bị thương thật sạch và xé áo của mình ra băng bó vết thương, nhưng máu thấm ướt cả áo. Vua giặt áo và đem băng lại vết thương. Cứ như thế cho đến khi máu ngừng chảy.

Lúc bấy giờ người bị thương mới tỉnh dậy và đòi uống nước. Vua chạy đi múc nước suối cho ông ta uống. Khi đó mặt trời đã bắt đầu khuất và bắt đầu lạnh. Nhờ sự tiếp tay của ông đạo, nhà vua khiêng người bị nạn vào trong am và đặt nằm trên giường ông đạo. Ông ta nhắm mắt nằm yên. Nhà vua cũng mệt quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi dựa vào cánh cửa và ngủ thiếp đi. Vua ngủ ngon cho đến nỗi khi Vua thức dậy thì trời đã sáng và phải một lúc sau Vua mới nhớ ra được mình đang ở đâu và đang làm gì. Vua nhìn về phía giường thì thấy người bị thương cũng đang nhìn mình chòng chọc, hai mắt sáng trưng.

Người đó thấy vua tỉnh giấc rồi và đang nhìn mình thì nói, giọng rất yếu ớt:

"Xin bệ hạ tha tội cho thần".

"Ông có làm gì nên tội đâu mà phải tha?"

"Bệ hạ không biết hạ thần, nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người thù của bệ hạ, Hạ thần đã thề sẽ giết bệ hạ cho bằng được bởi vì khi xưa, trong chinh chiến bệ hạ đã giết mất người anh của hạ thần và còn tịch thu gia sản của hạ thần nữa".

"Hạ thần biết rằng bệ hạ sẽ lên núi này một mình để gặp ông đạo sĩ, nên đã mai phục quyết tâm giết bệ hạ trên con đường về. Nhưng cho đến tối mà bệ hạ vẫn chưa trở xuống, nên hạ thần đã rời chỗ mai phục mà đi lên núi tìm bệ hạ để hành thích. Thay vì gặp bệ hạ, hạ thần lại gặp bốn vệ sĩ. Bọn nầy nhận mặt được hạ thần cho nên đã xông lại đâm hạ thần. Hạ thần trốn được chạy lên đây, nhưng nếu không có bệ hạ cứu thì chắc chắn hạ thần đã chết vì máu ra nhiều quá. Hạ thần quyết tâm hành thích bệ hạ mà bệ hạ lại cứu sống được hạ thần. Hạ thần hối hận quá. Bây giờ đây nếu hạ thần mà sống được thì hạ thần nguyện sẽ làm tôi mọi cho bệ hạ suốt đời, và hạ thần cũng sẽ bắt các con của hạ thần làm như vậy. Xin bệ hạ tha tội cho hạ thần".

Thấy mình hòa giải được với kẻ thù một cách dễ dàng nhà vua rất vui mừng. Vua không những tha tội cho người kia mà còn hứa sẽ trả lại gia sản cho ông ta, và gửi ngự y cùng quân hầu tới săn sóc cho ông ta lành bệnh.

Sau khi cho vệ sĩ khiêng người bị thương về nhà, vua trở lên tìm ông đạo để chào. Trước khi ra về vua còn lặp lại lần cuối ba câu hỏi của vua. Ông đạo đang quỳ gối xuống đất gieo những hạt đậu trên những luống đất đã cuốc sẵn hôm qua.

Vị đạo sĩ đứng dậy nhìn vua: "Nhưng ba câu hỏi của vua đã được trả lời rồi mà".

Vua hỏi: "trả lời bao giờ đâu nào?"

"Hôm qua nếu Vua không thương hại bần đạo già yếu mà ra tay cuốc dùm mấy luống đất này thì khi ra về nhà vua đã bị kẻ kia mai phục hành thích mất rồi, và nhà Vua sẽ tiếc rằng đã không ở lại cùng ta. Vì vậy thời gian quan trọng nhất là thời gian Vua đang cuốc đất; nhân vật quan trọng nhất lúc đó là bần đạo đây, và công việc quan trọng nhất là công việc giúp bần đạo. Rồi sau đó khi người bị thương nọ chạy lên, thời gian quan trọng nhất là thời gian vua chăm sóc cho ông ta, bởi vì nếu vua không băng vết thương cho ổng thì ổng sẽ chết và vua không có dịp hòa giải với ổng; cũng vì thế mà ông ta là nhân vật quan trọng nhất, và công việc vua làm để băng bó vết thương là quan trọng nhất. Xin vua hãy nhớ kỹ điều này: "chỉ có một thời gian quan trọng mà thôi, đó là thời gian hiện tại, là giờ phút hiện tại. Giờ phút hiện tại quan trọng bởi vì đó là thời gian duy nhất trong đó ta có thể làm chủ được ta. Và nhân vật quan trọng nhất là kẻ đang cụ thể sống với ta, đang đứng trước mặt ta, bởi vì ai biết được là mình sẽ đương đầu làm việc với những kẻ nào trong tương lai. Công việc quan trọng nhất là công việc làm cho người đang cụ thể sống bên ta, đang đứng trước mặt ta được hạnh phúc, bởi vì đó là ý nghĩa chính của đời sống.



(Trích từ Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức - TNH )

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2016

TÍNH CÁCH NGA - Alexei Tolstoy


Tính cách Nga! Cái nhan đề đó quả là quá lớn đối với một truyện ngắn. Nhưng biết làm sao, khi chính tôi lại muốn nói với anh về tính cách Nga.Tính cách Nga! Thật là khó mà khắc hoạ nổi… Kể về các chiến công anh hùng chăng? Nhưng những chiến công như vậy nhiều tới mức khiến tôi lúng túng - chẳng biết sẽ kể về chiến công nào. May sao một câu chuyện không dài lắm trong đời tư của một người tôi quen đã giúp tôi thoát khỏi thế bí. Tôi sẽ không kể chuyện anh ta đã chiến đấu với bọn phát xít như thế nào, mặc dù trên ngực anh lấp lánh những huân chương, trong đó có cả một huân chương sao vàng. Đó là một con người giản dị, trầm lặng, bình thường, nông trang viên của một làng ở lưu vực sông Vonga thuộc tỉnh Xaratốp. Nhưng so với những người khác, anh là người có thân hình lực lưỡng, cân đối và điển trai. Những khi nhô đấu lên khỏi tháp pháo xe tăng, người ta mê mải ngắm nhìn anh, đúng là một chiến thần!.

Anh nhẩy từ trên tháp pháo xe tăng xuống, tháo chiếc mũ công tác khỏi mái tóc quăn đẫm mồ hôi, lấy vạt áo rách lau bộ mặt lem luốc và thế nào cũng mỉm cười khoan khoái.

Trong chiến tranh, con người luôn gần kề cái chết,người ta trở nên tốt đẹp hơn, những điểu nhỏ nhặt vặt vãnh đều bong tuột đi như những lớp da bị rộp lên sau khi tắm nắng, và con người chỉ còn lại cái phần hạt nhân cốt lõi. Lẽ cố nhiên, ở người này cái hạt nhân rắn chắc hơn và ở người kia thì mềm nhược hơn, nhưng ngay cả ở những người hạt nhân có khuyết tật cũng đều cố gắng vươn lên và ai cũng muốn trở thành người tốt và đáng tin cậy. Anh bạn mà tôi quen, Êgô Đrêmốp, thì ngay trước lúc chiến tranh đã là người biết xử sự nghiêm túc, hết lòng yêu kính bà mẹ Maria Pôlicácpốpna và người cha Êgô Êgôrôvích: “Cha tôi là người đúng mực, và trước hết ông là một người biết tự trọng.” “Con ạ - ông nói - rồi con sẽ nhìn thấy nhiều điều trong cuộc đời, rồi con sẽ đi cả nước ngoài nữa, nhưng con hãy tự hào được là người Nga…”.

Cô bạn gái của anh cũng là người cùng làng trên bờ sông Vônga. Ở chỗ chúng tôi, người ta thường trò chuyện rất nhiều về người yêu, vợ con, đặc biệt là những phút im tiếng súng ngoài mặt trận, lúc trời lạnh giá và ngồi dưới hầm ăn bữa tối bên ngọn đèn dầu, bên bếp củi cháy lách tách. Lúc ấy thôi thì đủ chuyện - ai cũng phải giỏng tai lên mà nghe. Chẳng hạn: “tình yêu là gì?” Một người lên tiếng: “Tình yêu nảy nở từ sự kính trọng…”. Người thứ hai bác lại: “Không phải thế, tình yêu là một thói quen, người ta không chỉ yêu vợ, mà còn yêu cả bố mẹ, thậm chí cả các con vật nữa…” - “Chà, thật là ngớ ngẩn! - người thứ ba tiếp lời - tình yêu đấy là khi cậu cảm thấy mọi thứ trong người sôi sục, là khi con người chuếnh choáng hơi men…” Và mọi người cứ triết lý như thế hàng giờ, cho mãi tới khi đồng chí chuẩn uý, với giọng gấn như ra lệnh, phải can thiệp, mà cũng chẳng thể xác định thực chất của vấn đề… Hẳn là Êgo Đrêmốp, bẽn lẽn thẹn thùng về những chuyện ấy, anh chỉ nhắc qua với tôi về cô bạn gái, một cô gái tốt bụng,và nếu như cô ây nói là cô ấy sẽ chờ đợi thì cô ấy sẽ nhất định chờ, mặc dù anh trở về đã mất một chân… Đrêmốp cũng không thích kể về những chiến công. “Tôi chẳng thích nhớ đến những chuyện ấy!” Anh chau mày và hút thuốc. Chúng tôi chỉ được biết những chiến công của anh qua lời kể của anh em cùng kíp chiến đấu. Đặc biệt, anh lính lái xe tăng Tsuvilép đã kể nhiều chuyện ngạc nhiên về Êgo Đrêmốp.

-… Anh biết không, chúng tôi chỉ vừa kịp triển khai đội hình, tôi nhìn ra đã thấy xe tăng địch từ phía sau cái mỏm đồi thấp bò ra… Tôi hét lên: “Đồng chí trung uý, Con cọp!”-”tiến lên - trung uý quát - hết tốc độ!… “Tôi cho xe lẩn vào khu rừng thông non, ngoặt sang phải, rồi sang trái…. “Con cọp” chĩa nòng pháo ra như thằng mù, thành ra bắn trượt… Còn trung uý, trung uý đã nện ngay một phát vào sườn xe tăng địch, mảnh vụn bắn tung toé! Anh ấy bồi tiếp một phát nữa vào tháp pháo - thế là nòng pháo chổng ngược lên, tới phát thứ ba thì khói phì ra từ các khe hở và một ngọn lửa bùng lên cao đến trăm mét… Mấy thằng lính tăng Đức bò ra qua cửa phụ. Ivan Lápsin quất một tràng súng máy, chúng nó nằm đờ ra, giãy giụa… Anh có hiểu không, với chúng tôi thế là đường đã thông. Chỉ năm phút sau, xe tăng chúng tôi đã xông thẳng vào làng. Ở đây tôi đến chết mệt vì buồn cười… Bon phát xít bạ đứa nào đứa ấy chạy. Anh có biết không, đường làng thì lầy lội, có thằng đã văng mất cả ủng chỉ còn bít tất - nó chạy như ma đuổi! Chúng nó ùa về phía kho cỏ. Đống chí trung uý ra lệnh cho chúng tôi: “Phóng về phía kho cỏ”. Tôi quay tháp pháo trở lại, mở hết ga. Cha me ơi! Những rầm xà, những tấm ván, gạch ngói rơi xuống thành xe loảng xoảng, mấy thằng chó chết đang chúi đầu trong kho… Tôi nhấn ga cho xe lướt qua chà xát,mấy cánh tay chới với - thế là mấy thằng Hít-le đi đời…”

Đấy, trung uý Êgo Đrêmốp đã chiến đấu anh dũng như thế cho đến khi có chuyện rủi ro xảy ra với anh. Trong chiến dịch Cuốc-xcơ, khi bọn phát xít Đức đã kiệt sức và run rẩy, thì xe tăng của trung uý Đrêmốp đang ở trên cái gò giữa cánh đồng lúa mì, bị trúng đạn sau phát đạn thứ hai - xe tăng bốc cháy. Hai người trong kíp chiến đấu hy sinh. Chiến sĩ lái Tsuvilép đã chui ra khỏi xe tăng qua cửa trước, nhưng rồi anh lại trèo lên xe và kịp kéo trung uý Đrêmốp đã ngất lịm, quần áo cháy xém ra khỏi xe. Tsuvilép chỉ vừa kịp lôi Đrêmốp ra thì chiếc xe tăng đã nổ tung, mạnh tới mức làm tháp pháo văng ra xa tới năm mươi thước. Tsuvilép lấy hai tai bốc đất hất lên mặt, lên đầu Đrêmốp để dập tắt lửa. Rồi anh kéo Đrêmốp, bò qua nhiều hố đạn đại bác để tới trạm cứu thương…”Tại sao lúc đó tôi lại lôi trung uý đi à? - Tsuvilép nói - bởi vì tôi nghe thấy tim trung uý còn đập…”

Êgo Đrêmốp thoát chết, và thậm chí không bị hỏng mắt, cho dù anh bị bỏng nặng có chỗ trông thấy rõ cả xương. Tám tháng ròng Đrêmốp phải nằm ở viện quân y, các bác sĩ đã làm phẫu thuật chỉnh hình, nhờ thế mà hồi phục được môi, mũi, mi mắt và tai. Sau tám tháng, khi tháo băng Đrêmốp thấy bộ mặt của mình không còn giống như trước. Cô y tá, sau khi đưa cho anh mượn cái gương nhỏ, đã quay mặt đi và oà khóc. Đrêmốp lập tức đưa trả lại cho cô gái chiếc gương

- Nhiều khi còn tồi tệ hơn nữa kia, dù sao cũng còn là may - Đrêmốp nói - như thế này vẫn có thể sống được.

Từ lần ấy, Đrêmốp chẳng bao giờ hỏi mượn gương cô y tá nữa, anh chỉ lấy tay sờ lên mặt, hình như để cho quen dần. Hội đồng giám định cho rằng, giờ thì Đrêmốp chỉ còn có thể phục vụ ở đơn vị hậu cần mà thôi. Đrêmốp lập tức tới gặp thiếu tướng và nói: “Xin đồng chí cho phép tôi được trở lại trung đoàn”. “Nhưng đồng chí bây giờ là thương binh kia mà” - thiếu tướng nói. “Không đúng, tôi bị tàn tật thật, nhưng điều đó chẳng hề cản trở công việc, tôi sẽ phục hồi hoàn toàn khả năng chiến đấu”. (Êgo Đrêmốp nhận thấy rằng, trong lúc tiếp chuyện anh, thiếu tướng cố ý không nhìn vào mặt anh, song anh chỉ nhếch mép cười). Đrêmốp được nghỉ phép hai mươi ngày để phục hồi sức khoẻ, anh quyết định về nhà thăm bố mẹ. Lúc ấy là tháng Ba vừa rồi.

Lúc xuống ga xe lửa, Đrêmốp cứ chắc mẩm sẽ thuê được xe ngựa, nhưng rồi anh đã phải cuốc bộ mười tám véc-xta. Tuyết vẫn phủ trắng xoá, trời ẩm ướt, con đường vắng lặng, gió lạnh thổi tung vạt áo choàng, và tiếng gió vun vút bên tai gợi lên một nỗi buồn hiu quạnh. Đrêmốp về tới làng lúc trời đã nhá nhem. Cái giếng đầu làng với chiếc gầu múc nước đang đung đưa kẽo kẹt. Ngôi nhà thứ sáu kia là nhà cha mẹ anh. Thốt nhiên, Đrêmốp lắc lắc đầu. Anh đi theo lối tắt về nhà. Đrêmốp đứng trong đám tuyết ngập đến đầu gối, nhìn vào cửa sổ, - dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn vặn nhỏ, mẹ anh đang lúi húi dọn bữa ăn tối. Mẹ vẫn đôi cái khăn màu đen ấy, vẫn lặng lẽ, trầm tĩnh và hiền hậu. Mẹ đã già hơn, đôi vai gầy nhô cao lên… “Chao ôi, nếu như con biết thế này, thì con sẽ viết thư cho mẹ mỗi ngày một lá, dù chỉ đôi dòng…” Mẹ đặt mấy món ăn sơ sài lên bàn - cốc sữa, miếng bánh mì, hai cái thìa, lọ muối - rồi mẹ đứng trước bàn, khoanh đôi tay gầy guộc lên trước ngực và trầm tư. Êgo Đrêmốp ngắm mẹ qua cửa sổ, anh hiểu rằng không nên làm mẹ sợ hãi, không nên để nét mặt nhăn nheo của mẹ phải run rẩy tuyệt vọng. Thôi được! Drêmốp mở cổng và đi vào sân, anh khẽ gõ cửa. Bà mẹ hỏi vọng ra: “Ai đó?” - Anh đáp:”Trung uý, Anh hùng Liên Xô Grômốp”.

Đrêmốp hồi hộp, tim đập thình thịch, đứng tựa vai vào then cài cửa. Không, mẹ đã không nhận ra giọng nói của anh. Cả anh nữa, dường như đây là lần đầu tiên anh nghe thấy giọng nói đã thay đổi sau bao lần phẫu thuật của mình - giờ đây nó đã trở nên đùng đục, khàn khàn nghe không rõ nữa.

- Ôi chao, anh cần gì vậy? - bà mẹ hỏi.

- Cháu muốn chuyển lời hỏi thăm của thượng uý Đrêmốp tới bà Maria Pôlicácpốpna. Bà mẹ vội vã mở cửa và bước lại nắm lấy hai tay anh.

- Thằng Êgo nhà tôi còn sống chứ anh? Nó khoẻ chứ? Ôi chao, anh vào nhà đi chứ.

Êgo Đrêmốp ngồi xuống chiếc ghế dài bên bàn, đúng chỗ mà anh vẫn ngồi lúc nhỏ, lúc chân anh còn chưa chấm đất và mẹ anh vẫn thường vuốt ve mái tóc quăn quăn của anh, rồi nói: “Ăn đi con yêu của mẹ”. Và Đrêmốp bắt đầu kể cho bà nghe về đứa con trai của bà, về chính mình, anh kể tỉ mỉ - Êgo ăn ra sao, uống thế nào, chằng thiếu thứ gì, luôn khoẻ mạnh và vui vẻ, anh kể vắn tắt về các trận chiến đấu mà anh cùng chiếc xe tăng của mình đã tham dự.

- Cháu nói đi, ở ngoài mặt trận khủng khiếp lắm phải không? - bà Maria Policácpốpna ngắt lời và đưa đôi mắt màu thẫm nhìn thẳng vào anh, nhưng vẫn không nhận ra con mình.

- Vâng tất nhiên là khủng khiếp lắm, mẹ ạ, nhưng chúng con đã quen rồi.

Cha anh đã về, ông Êgo Êgôrôvích, mấy năm qua cũng đã yếu đi nhiều. Râu cằm ông đã bạc phơ cả. Đưa mắt nhìn khách, ông dậm chân trong đôi ủng rách ở bậc cửa, thong thả cởi khăn và áo ấm, rồi bước lại bên bàn chìa bàn tay cho khách - ôi chao, cái bàn tay quen thuộc, to rộng và cần cù của bố! Ông Êgo Êgôrôvích không hỏi gì, bởi lẽ chẳng cần hỏi cũng rõ người khách ngực đầy huân chương tại sao ngồi đây, ông ngồi xuống ghế, mắt lim dim, lắng nghe.

Trung uý Đrêmốp, mà cả nhà không nhận ra, càng ngồi kể lâu hơn về mình và về những người khác, thì anh càng cảm thấy mình không sao có thể thú nhận được, có nghĩa là, đứng lên và nói: bố mẹ ơi, xin hãy nhận lấy đứa con trai bị tàn tật!… Anh cảm thấy sung sướng và dễ chịu được ngồi bên chiếc bàn của bố mẹ, nhưng cũng cảm thấy buồn bực.

- Nào, ta ăn bữa tối đi thôi, bà nó mang thứ gì ra đãi khách đi.

Ông Êgo Êgôrôvích mở chiếc tủ cũ kỹ mà góc bên trái còn có những chiếc lưỡi câu đựng trong bao diêm - tất cả vẫn còn đó - và cái ấm pha trà sứt vòi kia nữa - nó vẫn được đặt ở chỗ sực nức mùi bánh mì vụn và vỏ hành khô. Êgô Êgôrovích lấy bình rượu ra - cũng chỉ vừa đủ hai cốc và thở dài vì không sao kiếm được nhiều hơn. Họ cùng ăn tối như những ngày trước. Chỉ trong khi ăn, trung uý Đrêmốp mới nhận thấy rằng mẹ anh đặc biệt chú ý bàn tay cầm thìa của anh. Anh gượng cười, bà mẹ ngước mắt lên, nét mặt run rẩy, đau khổ. Họ nói với nhau về những chuyện này, chuyện nọ, chuyện mùa xuân năm nay sẽ ra sao, dân làng có làm nổi một vụ mùa không, và chuyện chiến tranh rồi sẽ kết thúc vào mùa hè năm nay.

- Bác Êgo Êgôrôvích, do đâu mà bác nghĩ rằng chiến tranh sẽ kết thúc vào mùa hè này.

- Nhân dân đã nổi giận - Êgo Êgôrôvích đáp - họ đã vượt qua được cái chết,và bây giờ thì chẳng thể ngăn được nữa, quân Đức sẽ đi đời.

Bà Maria Pôlicácpốpna hỏi:

- Anh vẫn chưa nói, khi nào thằng Êgo nhà tôi nghỉ phép về thăm nhà. Đã ba năm nay tôi không nhìn thấy nó. Hẳn là giờ đây nó đã lớn lắm rồi, chắc là đã để ria mép… Vậy mà ngày ngày phải liền kề với cái chết, giọng nói của nó bây giờ hẳn là ồm ồm đấy nhỉ?

- Vâng, anh ầy thế nào chắc cũng được về phép, và biết đâu hai bác chẳng thể nhận ra - Đrêmốp nói.

Bà Maria Pôlicácpốpna sắp chỗ cho Đrêmốp ngủ trên bếp lò, ở đó, anh vẫn còn nhớ từng viên gạch, từng khe hở của bức tường ghỗ ghép, từng cái sẹo gỗ trên trần nhà. Cái mùi bánh mì, mùi lông cừu thân quen cho tới lúc chết cũng không sao quên được. Những trận gió tháng Ba lộng thổi trên nóc nhà. Êgô Êgorôvích ở buồng bên đã ngáy nhè nhẹ. Còn bà Maria Policácpốpna thì vẫn trở mình trằn trọc. Đrêmốp nằm sấp, úp mặt vào lòng bàn tay: “Chẳng lẽ mẹ lại không nhận ra mình - Đrêmốp tự nhủ - Chẳng lẽ mẹ lại không nhận ra? Mẹ ơi,mẹ ơi…”

Tiếng củi cháy lách tách buổi sáng đã làm cho Đrêmốp tỉnh dậy, bà Maria Pôlicácpốpna đang lặng lẽ nhóm bếp, hai miếng vải bọc chân của anh đã được giặt sạch, phơi trên dây, đôi ủng được rửa sạch đặt bên cửa.

- Cháu có thích bánh bột kê không? - Bà Maria hỏi.

Đrêmốp không trả lời ngay, anh tụt xuống khỏi bếp lò, mặc áo sơ mi, thắt dây lưng và cứ để chân đất ngồi xuống ghế.

- Bác Maria Pôlicácpốpna, cô Cachia Malưsêva vẫn còn ở làng ta chứ? Cô Cachia con gái ông Anđrây Xtêphanôvích Malưsép ấy.

- Nó mới ra trường năm ngoái, hiện là cô giáo ở làng này. Cháu cần gặp Cachia à?

- Anh Đrêmốp bảo cháu thế nào cũng phải chuyển tới cô ấy lời hỏi thăm.

Bà Maria nhờ một đứa bé gái hàng xóm chạy đi gọi Cachia. Đrêmốp còn chưa kịp đi giày thì Cachia Malưsêva đã tới. Đôi mắt to màu xám của cô long lanh, đôi lông mày nhíu lại vì ngạc nhiên và gò má ửng đỏ vì sung sướng. Khi cô gái đẩy cái khăn trùm đầu xuống vai, Đrêmốp thầm nói với mình: ôi chao, giá mà được hôn lên mái tóc vàng óng và ấm áp này… Anh vẫn thường hình dung Cachia đúng như thế - tươi tắn, hiền dịu, vui vẻ, phúc hậu và xinh đẹp - khi cô bước vào, căn nhà như sáng rực hẳn lên…

- Anh chuyển tới em lời chào của anh Êgo phải không? (Êgo đứng xây lưng lại về phía ánh sáng và chỉ gật đầu bởi anh không thể nói được lên lời). Đêm ngày em vẫn mong đợi anh ấy, xin anh nói giùm với anh Êgo như vậy…

Cachia bước lại gần. Cô đưa mắt nhìn anh và thót ngực lại vì sợ hãi. Ngay lúc ấy, Đrêmốp đã quyết định thế nào ngày hôm nay anh cũng sẽ ra đi.

Bà Maria đã nướng xong những chiếc bánh bột kê trộn sữa đặc. Và anh lại kể về trung uý Đrêmốp, nhưng lần này anh kể về những chiến công của trung uý - anh kể một cách nghiêm túc và cũng chẳng hể ngoảnh mặt về phía Cachia để khỏi phải nhìn thấy bóng dáng nét mặt tàn tật của mình phản chiếu trên gương mặt xinh đẹp của cô gái. Ông Êgo Êgôrôvích lo đi mượn xe ngựa nông trang - nhưng Đrêmốp lai cuốc bộ ra ga, như khi trở về nhà. Anh cảm thấy đau lòng về tất cả những chuyện đã xảy ra, có lúc,thậm chí anh đứng dừng lại, lấy tay tát thẳng vào mặt mình và lẩm bẩm bằng một giọng khàn khàn: “Giờ thì biết làm sao đây?”.

Êgo Đrêmốp trở về trung đoàn lúc đó đang đóng sâu trong hậu cứ, để chuẩn bị đi bổ sung chiến đấu. Đồng đội đón anh với niềm vui chân thành, đến mức Đrêmốp quên đi những điều phiền muộn đã làm anh không ăn, không ngủ, không thở. Anh quyết định: cứ để cho mẹ chậm biết tới nỗi bất hạnh của con trai càng lâu càng tốt. Nhưng còn về phần Cachia - cần phải bứt cái rằm ấy ra khỏi trái tim thôi.

Hai tuần lễ sau, Đrêmốp nhận được thư của mẹ:

“Con trai yêu quí của mẹ. Mẹ sợ ngay cả việc phải viết thư cho con, mẹ cũng chẳng biết phải nghĩ thế nào nữa. Có một người ở đơn vị con vừa ghé thăm nhà ta, anh ấy là một người rất tốt, chỉ có điều có bộ mặt dễ sợ. Lúc đầu anh ấy định ở lại nhà ta một thời gian, nhưng rồi đột nhiên anh ấy lại đi ngay. Từ hôm ấy, đêm đêm mẹ không làm sao chợp mắt được - mẹ cứ nghĩ là chính con đã về nhà. Bố con cứ mắng mẹ về chuyện ấy và trách mẹ lẩm thẩn: nếu như đó là con trai chúng ta, lẽ nào nó lại không nói thật. Việc gì nó phải giấu, nếu như nó chính là thằng Đrêmốp nhà ta - một bộ mặt như cái anh đã về nhà ta là một bộ mặt đáng tự hào. Bố con khuyên nhủ mẹ như thế, nhưng trái tim của mẹ thì lại cứ đinh ninh: con đấy, chính con đã về thăm nhà! Anh ta nằm ngủ trên bếp lò, và mẹ đã mang áo của anh ấy ra sân và chải sạch, mẹ đã úp mặt vào áo và oà lên khóc. Đúng là con, đây chính là áo của con! Êgo, con hãy viết thư cho mẹ đi, lạy Chúa, kẻo không thì mẹ phát điên lên mất, đầu đuôi mọi chuyện là thế nào? Chẳng nhẽ mẹ đã lẩn thẩn rồi sao…”.

Êgo Đrêmốp đưa lá thư cho tôi, Ivan Xuđarép, anh vừa kể lại tất cả mọi chuyện vừa lấy tay áo lau nước mắt. Tôi bảo anh ta: “Mình đã nói mà, cái tính cách của cậu nó kỳ quái lắm! Thật là ngốc, ngốc hết sức, cậu phải viết thư ngay về cho mẹ và xin lỗi mẹ, kẻo không mẹ cậu sẽ phát điên lên… Mẹ cậu cần chi tới cái vẻ ngoài của cậu! Bây giờ cậu như thế này thì mẹ cậu lại còn yêu cậu hơn trước kia đấy”.

Ngay ngày hôm đó, Đrêmốp viết một lá thư: “Bố mẹ kính yêu, xin tha lỗi cho con vì cái tội ngu xuẩn ấy, chính là con, con trai của bố mẹ hôm ấy…” Cả bốn trang giấy đặc những chữ nhỏ li ti và anh còn có thể viết được hai chục trang nữa kia.

Ít lâu sau, một hôm, tôi cùng Êgo đang ở trường bắn thì một chiến sĩ chạy tới: “Báo cáo đồng chí đại uý, có người hỏi đồng chí…” Và mặc dù đồng chí chiến sĩ đứng nghiêm báo cáo đúng như điều lệnh, nhưng vẻ mặt của anh ta là vẻ mặt của một người sắp được đánh chén. Chúng tôi đi về thị trấn, đến ngôi nhà mà tôi và Đrêmốp đang ở. Tôi thấy Đremốp có vẻ luống cuống, cứ dặng hắng liên tục… Tôi thầm nghĩ: “Lính xe tăng, lính xe tăng gì mà dễ xúc động thế?” Hai chúng tôi bước vào nhà, và tôi nghe thấy: “Mẹ ơi, con đây!”

Một bà lão bé nhỏ ngã vào ngực anh. Tôi liếc nhìn, hoá ra ở đây còn có một thiếu nữ nữa. Nói thực lòng, có thể còn có những thiếu nữ đẹp ở các vùng khác nữa, nhưng riêng tôi, tôi chưa bao giờ nhìn thấy một cô gái đẹp như thế.

Đrêmốp buông mẹ ra, bước lại gần cô gái ấy, và tôi lai nhớ đến cái vẻ ngoài của một chiến thần: “Cachia! - Đrêmốp nói - Cachia, cô tới đây làm gì? Cô hứa sẽ đợi một người khác, chứ đâu phải một người như thế này…”

Dù đã ra phòng ngoài, tôi vẫn nghe thấy tiếng cô gái Cachia xinh đẹp trả lời: “Êgo, em sẽ sống với anh trọn đời. Em sẽ yêu anh chung thuỷ, em rất yêu anh… đừng gạt bỏ em…”

Đấy, cái tính cách Nga là như thế! Một con người chừng như là bình thường, nhưng khi gặp thử thách gay go, dù lớn hay nhỏ, ở con người ấy cũng sẽ trỗi dậy một sức mạnh vĩ đại - vẻ đẹp một con người.

A.Tonstoi

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016

WHY I AM SO POOR / TẠI SAO TA QUÁ NGHÈO ?

WHY I AM SO POOR ?

The poor man asking Buddha ” Why I am so poor ?”
Buddha reply : You are not giving and you don’t know How ?
Poor Man : I got nothing to give.
Buddha : You have things to give, not less at all.
Face: You can smile, enjoy, cheerful and happy.…
Mouth: You can speak with kind words, encourage people, cheerful and give them comfort.
Heart : You can open your heart to the others by sincere, truthful and kindness.
Eyes : You can looking at the others with kindness and compassion.
Body: You can use your own labor help out the others.
See…. You are not poor at all.
” Poor in our heart are the real poor ”

**************************

TẠI SAO TA QUÁ NGHÈO?

Một người đàn ông nghèo đến hỏi Đức Phật "Tại sao con quá nghèo vậy"?
Phật trả lời: Con không bố thì và con chưa học được cách bố thí cho người khác?
Người đàn ông nghèo: Con chẳng có gì để cho đi cả.
Đức Phật: Con có nhiều thứ để cho đi, không hẳn là không có gì.
- Nhan thí: Bố thí nụ cười, sự vui vẻ và hạnh phúc
- Ngôn thí: Bố thí ái ngữ, động viên mọi người, nói lời hay.
- Tâm thí: Bố thí tâm hòa ái, lòng chân thật, sự tử tế.
- Nhãn thí: Bố thí ánh mắt nhìn thẳng hiền từ.
- Thân thí: Bố thí hành động nhân ái, hành động giúp đỡ người khác.
Con thấy không, con chẳng hề nghèo chút nào.
"Nghèo trong trái tim, trong tâm mới là cái nghèo thực sự"


(Cái ngày gọi là Bố thí Nội tài, là Công thức "làm giàu không khó chân thực" đó)

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2016

CHIA SẺ KINH NGHIỆM CỦA THIỀN SƯ GOENKA VỀ KINH NGHIỆM THIỀN MINH SÁT - VIPASSANA

Chia sẻ của Ngài Thiền sư nổi tiếng Goenka về cơ duyên đến với Thiền minh sát, và sau này Ngài trở thành TS nổi tiếng thế giới, mang thiền minh sát trở về quê hương Ấn sau nhiều năm biến mất. (Vipassana là một trong những phương pháp thiền định xưa nhất của Ấn Độ. Nó được Đức phật Thích ca khám phá lại cách đây trên 2500 năm, và nó là phương pháp cốt lõi mà Đức phật đã tu tập và giảng dạy trong suốt 45 năm hoằng Pháp của Ngài).
***********************************************
Tôi rất may mắn được sinh ra trong vùng đất này, vùng đất Dhamma (Pháp), Dhamma ấy vẫn còn nơi đây. Tôi lại rất may mắn được sinh ra trong gia đình Kinh doanh. Vì nếu không được sinh trưởng trong một gia đình Kinh doanh, giàu có. Và nếu tôi không kiếm ra được nhiều tiền thì có lẽ một phần nào đó trong tâm tôi vẫn còn nghĩ rằng: “Những người giàu có sống cuộc đời hạnh phúc. Tôi thiếu cuộc sống giàu sang này. Tôi phải được như những người giàu có này”. Giờ đây, tôi đã trải qua cảnh ấy và biết rằng những người giàu có này khổ sở như thế nào. Rất khổ, sự bon chen, cực lực để kiếm tiền, chỉ biết kiếm tiền, không có gì ngoài tiền, tiền, tiền, việc ấy làm cho họ rất khổ sở. Tôi đã trải qua hết những thứ đó, tôi may mắn đã trải qua tất cả những nỗi khổ đó. Vào lúc còn rất trẻ, tôi đã bắt đầu tranh đua kiếm tiền. Theo tiêu chuẩn của nước Miến Điện, tôi đã kiếm ra rất nhiều tiền. Tôi là người rất giàu, hoàn toàn thành công trong ngành Kinh doanh và kỹ nghệ. Và khi người nào kiếm ra nhiều tiền, kẻ ấy có được địa Vị đặc biệt trong xã hội. Ông ta được cử làm thủ quỹ, chủ tịch hay thư ký tổ chức tôn giáo này, tổ chức an sinh xã hội kia. Trong nhiều đoàn thể khác nhau, tôi đã là chủ tịch, thư ký, giám đốc, quản trị viên. Lại thêm một thứ điên cuồng nữa, nó ăn sâu vào đầu, bản ngã được thổi phồng lên: “Hãy xem này, tôi là một nhân vật quan trọng đến như thế”. Tất cả những điều trên xảy ra với tôi vào lứa tuổi còn rất trẻ, khoảng 25 tuổi. Điều này gây ra sự điên cuồng như thế, nó tạo ra nhiều căng thẳng nội tâm. Một lần nữa, tôi may mắn đã trải qua hết những khó khăn này. Tôi mắc phải chứng đau đầu dữ dội, một loại đau đầu Kinh niên đặc biệt, không chữa trị được. Các Bác sĩ giỏi nhất Miến Điện đã cố chữa trị cho tôi. Dùng đủ mọi loại thuốc, không có tác dụng gì, các Bác sĩ bắt đầu chích thuốc phiện cho đỡ đau. Cứ khoảng mỗi 2 tuần, tôi bị đau nhức Kinh khủng, không có phương cách chữa, họ tiêm thuốc phiện cho tôi. Tôi bị chích thuốc phiện như thế, khoảng 4 hay 5 năm. Rồi chính các Bác sĩ tài giỏi này bắt đầu nói với tôi: “Dần dần ông sẽ trở thành người nghiện thuốc phiện. Bây giờ, ông phải chích thuốc phiện vào để đỡ đau đầu, nhưng sau này, ông phải chích thuốc phiện vì nghiện thuốc phiện. Ông phải chích thuốc phiện mỗi ngày”. Nếu phải chích thuốc phiện mỗi ngày, đời sống của tôi còn ra gì nữa. Cho nên, họ khuyên tôi: “Ông thường xuất ngoại để làm ăn, hãy quên chuyện làm ăn một chuyến, hãy đi một chuyến chỉ để cai thuốc phiện. Chúng tôi biết rằng không có Bác sĩ nào có thể chữa trị chứng nhức đầu Kinh niên đặc biệt mà ông hiện đang phải chịu. Nhưng chắc chắn, họ sẽ có loại thuốc giảm đau khác. Tại sao ông không thử mộtchuyến?”. Nghe theo lời khuyên, tôi rời Miến Điện, lưu lại ở Thụy Sỹ, Đức, Anh và Bắc Mĩ một thời gian dài. Tôi có văn phòng riêng ở Nhật Bản nên tôi lưu lại ở đó lâu hơn. Khắp mọi nơi, tôi tham khảo ý kiến các Bác sĩ tài giỏi nhất, tốn rất nhiều tiền, mất nhiều thời gian. Một lần nữa, tôi đã may mắn vì không có Bác sĩ nào có thể chữa trị bệnh của tôi được. Các Bác sĩ tài giỏi nhất trên thế giới cũng không thể chữa lành bệnh cho tôi. Họ còn chưa thể giải trừ thuốc phiện mà tôi đã tiêm vào, huống chi là chữa trị chứng nhức đau đầu Kinh niên này. Thật là may mắn cho tôi. Tôi trở về Miến Điện đầy thất vọng. Nhưng cuối cùng, hóa ra lại là may mắn, một người bạn rất thân của tôi (người sau này trở thành Thẩm phán Tòa án tối cao Miến Điện) đã khuyên tôi: “Goenka! Ông đã tìm kiếm khắp nơi. Sao không thử khóa Thiền 10 ngày với Thiền sư Vipassana này. Theo tôi chứng bệnh của ông có vẻ như loại bệnh thuộc về tinh thần – một phương pháp thanh lọc tâm của Đức Phật đang được truyền dạy ở đây. Khi tâm được thanh tịnh căn bệnh tinh thần sẽ hết. Tại sao ông không thử?”. Tôi nói: “Nếu phương pháp này công hiệu thì thật là tuyệt vời”.Tôi đến gặp Thầytôi (Sayagyi U Ba Khin), một con người với đầy từ tâm. Tôi đến gặp ông và nói: “Tôi muốn tham dự một khóa Thiền 10 ngày của Thầy”. Thầytôi trả lời: “Ông được chấp nhận theo học”. Thầytôi biết tôi là người lãnh đạo cộng đồng Ấn Giáo và phương pháp Thiền là con đường tu học của đạo Phật. Thầy tôi nói: “Đừng lấy thế mà e sợ! Bất cứ ai cũng có thể theo học, người theo Hồi Giáo, Cơ Đốc Giáo, Kỳ Na Giáo, Ấn Giáo… không thành vấn đề. Tất cả đều tu tập được cùng một lợi ích như nhau. Nếu ông theo Ấn Giáo, ông vẫn cứ giữ nguyên Ấn Giáo, tôi đây không cải Đạo ông đâu. Nhưng hãy thử phương pháp Thiền này, đây là phương pháp hay. Rồi tôi nói rằng: “Tôi đến đây vì bệnh nhức đầu Kinh niên”. Bất ngờ, ông ta nói: “Không, tôi sẽ không nhận dạy cho ông, tôi sẽ không nhận dạy cho ông.” “Thưa ngài, tại sao thế?” Thầytôi nói: “Ông đang làm giảm giá trị của Dhamma. Dhamma là con đường tâm linh rất cao cả, một con đường có thể đưa ông ra tất cả mọi khổ đau, hết kiếp này đến kiếp khác. Và ông chỉ muốn sử dụng phương pháp Thiền này vào việc chữa trị chứng nhức đầu của ông. Không được, nếu chỉ để chữa trị chứng nhức đầu của mình, ông có thể đi gặp Bác sĩ hay vào bệnh viện. Đây không phải là nơi chữa trị chứng nhức đầu của ông”. Rồi bằng lòng đầy từ ái,ông giải thích cho tôi: “Nếu ông hànhThiền, phương pháp này sẽ thanh lọc tâm của ông. Nguồn gốc khổ đau của ông là do những bất tịnh trong tâm. Khi những bất tịnh này mất đi, những căn bệnh về tinh thần sẽ mất đi. Lợi ích này sẽ đến, đây là một sản phẩm phụ.Ví dụ, ông muốn thiết lập một nhà máy làm đường, để làm gì? Để sản xuất đường chứ không phải để sản xuất mật mía, sản phẩm phụ là mật mía sẽ tự nhiên được tạo ra. Không ai xây nhà máy đường để sản xuất mật mía cả, nó chỉ là một thứ sản phẩm phụ. Cũng như thế, ông không nên đến đây chỉ vì chứng nhức đầu của ông. Hãy đến đây để thực tập con đường tâm linh cao cả này. Chỉ có thế, phương pháp Thiền này mới giúp ích cho ông được”. Tôi hiểu, bởi vì Thầytôi rất tử tế và đầy lòng từ ái, nơi ông phát ra từ trường rất tuyệt diệu: “Vâng, thưa Ngài! Tôi sẽ học vì lý do tâm linh chứ không phải vì chứng nhức đầu này. Nếu chứng nhức đầu này không chữa được, thì không chữa được chứ sao? Tôi không quan tâm nữa”. Nhưng trở về nhà, tôi đã phải đương đầu với tập quán ăn sâu từ thuở thơ ấu. Tôi sinh ra trong gia đình Ấn Giáo, hết sức bảo thủ, chúng tôi được dạy từ nhỏ là phải kính trọng Đức Phật. Đức Phật được xem như là hiện thân của Thượng Đế toàn năng, của Đấng sáng tạo. Ngài là hiện thân cuối cùng, hiện thân thứ 9 của Vị thần đó. Cho nên, chúng tôi phải kính trọng và tôn sùng Ngài. Nhưng còn giáo huấn của Ngài? Ồ! Không! chúng tôi được dạy rằng giáo huấn của Ngài không tốt, vì Ngài không tin vào linh hồn, Ngài không tin vào Thượng Đế, giáo huấn của Ngài là vô thần, không tốt. Tâm tôi đã được huấn luyện như thế và điều này làm tôi lo lắng: “Nếu tôi đi gặp những người này học phương pháp Thiền đó. Và nếu tôi trở thành Phật tử và không có tin vào Thượng Đế, không tin vào linh hồn, tôi sẽ trở thành cái gì? Tôi có thể sa xuống địa ngục. Ồ! Không! Pháp môn này không phải dành cho tôi, tốt hơn tôi đừng nên học”. Cứ thế, sự giằng co kéo dài mấy tháng, về sau tôi nghĩ Vị Thiền sư nói: “Ông là người theo Ấn Giáo cứ giữ nguyên Ấn Giáo. Mục đích của tôi không phải cải Đạo ông sang đạo Phật, mà để giúp ông trở thành một người tốt. Ông gìn giữ Sīla (Giới luật), thực hành Samādhi (Định) để làm chủ được tâm và thực hành Paññā (tuệ) để thanh lọc tâm. Điều này ông chấp nhận được, vậy tại sao không thử xem?”. Tôi quyết định sẽ thử, nhưng với quyết tâm là tôi vẫn giữ nguyên Ấn Giáo: “Được, tôi sẽ thử 10 ngày, nhưng tôi sẽ không trở thành Phật tử”. May mắn thay, tôi tham dự khóa học như bao nhiêu người khác. Dĩ nhiên, vào ngày thứ 2, tôi cảm thấy muốn bỏ đi. Chẳng qua vì tập quán trong đầu, tôi nghe người khác nói rằng khi họ Thiền, họ thấy ánh sáng này, ánh sáng kia, nhưng tôi chẳng thấy ánh sáng nào cả. Truyền thống của tôi cho rằng nếu ta thấy được ánh sáng linh thiên, đây là giai đoạn giải thoát. “Hãy nhìn xem! những người này họ thấy được ánh sáng linh thiên, còn tôi chẳng thấy gì cả”, và tôi còn nhớ lời của một Vị Thánh nhân nói: “Một con lạc đà có thể đi xuyên qua lỗ kim, nhưng người giàu có không thể đi qua cổng thiên đàng”. Tôi nghĩ rằng: “Mình là người giàu có nên cách tu tập này không hợp với tôi. Tất cả những người này, họ là Thầygiáo, Giáo sư Đại học, Bác sĩ, những người tốt, những người có tâm từ bi. Họ có thể thấy được ánh sáng linh thiêng này và những thứ khác. Tôi không thể thấy được. Vậy tại sao còn phí thời giờ của tôi ở đây làm gì? Tốt hơn là nên đi về và tôi thu xếp quần áo”. Một trong những Thiền sinh tốt bụng cùng khóa, là một Giáo sư dạy lịch sử ở trường Đại học. Thấy tôi thu xếp đồ đạc và muốn bỏ về, cô nói với tôi: “Chỉ một ngày nữa thôi! Vào ngày đầu tiên, ông đã có nhiều cảm giác. Thường thường, người ta chỉ có cảm giác vào ngày thứ 3. Ông có những cảm giác này và Thiền sư rất hài lòng với sự tu tập của ông. Tại sao ông muốn bỏ về? Ánh sáng không có gì là quan trọng cả. Đừng cho nó là quan trọng, hãy ở lại thêm một ngày”. Tôi rất mang ơn cô ấy vì đã ngăn không cho tôi bỏ về. Nếu không, tôi đã vĩnh viễn bỏ con đường tu tập tuyệt diệu này. Tôi đã ở lại và chiều tối hôm đó, tôi bước vào cái cốc nhỏ để ngồi Thiền. Khi ngồi xuống, ánh sáng xuất hiện. Ánh sáng này, ánh sáng kia hiện ra, bởi vì giờ đây, tâm tôi không còn ham muốn ánh sáng nữa, tôi ở cùng với cảm giác. Đột nhiên,một âm thanh tới, và với hiện tượng này là ấm thanh linh thiên: “Ồ! Đây là âm thanh linh thiên, đây là một Vị linh thiên, đây là ánh sáng linh thiêng”. Tôi nghĩ: “Không, Thầy tôi đã dạy đừng chú trọng đến những thứ này, chỉ chú trọng đến cảm giác”. May mắn thay, tôi đã trải qua hết những kinh nghiệm đó. Vào ngày thứ 5 hay thứ 6, toàn bộ giáo lý làm tôi rất mê say. Là một lãnh tụ của cộng đồng Ấn Giáo, tôi thường thuyết giảng về nhiều Kinh điển như Kinh Vệ Đà. Những lời giáo huấn tương tự được đưa ra khắp trong Kinh này. Đó là: “Hãy thoát khỏi ham muốn, khỏi ghét bỏ, giận dữ, thoát khỏi cái này, cái kia”. Nhưng làm sao để thoát khỏi những thứ ấy? Chẳng có phương pháp nào cả, chỉ là lời giáo huấn suông, lời thuyết giảng suông. Và với phương pháp Thiền Vipassana, tôi thấy rằng đây là phương pháp ứng dụng. Ở đây, tôi có được phần ứng dụng, một phương pháp Thiền huyền diệu, giúp tôi thoát khỏi ham muốn. Tôi đã không thể thoát khỏi sự ham muốn, sợ hãi, ngã mạn, giận dữ của mình. Và phương pháp Thiền này cho tôi con đường thực tế để thoát khỏi những tiêu cực này, nên tôi rất mê say. Sau 10 ngày, tôi thấy: “Phải, có vài thay đổi đã đến trong đời tôi, thay đổi đã diễn ra”. Tôi bắt đầu tận dụng phương pháp Thiền này. Tôi cảm thấy rất may mắn là được sinh ra trong xứ sở Miến Điện, nơi đã duy trì được phương pháp Thiền này, trong sự tinh khiết ban đầu của nó, dù chỉ với rất ít người. Họ đã giữ nguyên lời Đức Phật dạy trong sự tinh khiết thuở ban đầu, và giữ gìn phương pháp của Đức Phật trong sự tinh khiết thuở ban đầu. Và tôi gặp được Vị Thánh nhân này với đầy lòng từ ái, Vị ấy đã dạy Dhamma cho tôi. Trong 14 năm tôi vừa chu toàn bổn phận của một Cư sĩ tại gia,vừa tiếp tục tu tập theo phương pháp này. Sau 14 năm, việc xảy ra là cha mẹ tôi phải rời khỏi Miến Điện về Ấn Độ. Mẹ tôi bị bệnh nặng, một loại tâm bệnh nào đó. Tôi biết rằng nếu tập Vipassana, mẹ tôi sẽ khỏi bệnh đó. Nhưng vào dạo ấy, chính phủ Miến Điện không cấp giấy phép xuất cảnh cho kiều dân. Tôi cảm thấy rất biết ơn chính phủ Miến Điện đã cấp giấy phép xuất cảnh để tôi đi Ấn Độ dạy Vipassana cho mẹ tôi. Và tôi rất biết ơn chính phủ Ấn Độ đã cho phép tôi ở lại lâu hơn, để dạy phương pháp Thiền này cho mẹ tôi. Khóa đầu tiên được khai giảng ngay trong tháng đầu tiên khi tôi đến Ấn Độ. Đức Phật có nói rằng: “Ta không thể đền đáp hết công ơn dưỡng dục của cha mẹ, khó lắm. Cho dù có phụng sự cha mẹ suốt đời mình, không hề làm việc gì khác, ta vẫn không thể trả hết món nợ này. Chỉ có một cách duy nhất để trả hết món nợ của mình với cha mẹ là nếu cha mẹ chưa vững vàng trong Sīla, hãy giúp cha mẹ củng cố, vững vàng trong Sīla. Nếu cha me đã vững vàng trong Sīla nhưng chưa có Samādhi, hãy giúp cha mẹ củng cố, vững vàng trong Samādhi. Nếu cha mẹ đã vững vàng trong Sīla và Samādhi nhưng chưa có Paññā, hãy giúp cha mẹ củng cố, vững vàng trong Paññā. Nếu cha mẹ đã có Sīla, Samādhi, Paññā nhưng chưa thực chứng mục đích tối hậu Nibbāna (Niết bàn), hãy giúp cha mẹ chứng nghiệm được Nibbāna”. Tôi cảm thấy rất may mắn là mình đã có thể đền đáp được công ơn cha mẹ. Đấy là một khóa Thiền ít người gồm cha mẹ tôi và 12 người khác tham dự, vài người quen biết, vài người không quen. Tôi đến Ấn Độ chỉ trong 3 tháng để trao truyền Dhamma cho cha mẹ, đặc biệt là mẹ tôi. Rồi 12 người này, sau khi xong khóa Thiền, bắt đầu năn nỉ: “Xin dạy thêm thêm một khóa nữa. Cha tôi sẽ tham dự, vợ tôi, chồng tôi, con trai, con gái tôi…. Ehipassiko, đây là đặc tính của Dhamma, hãy đến mà xem. Thế là một khóa nữa, rồi một khóa nữa, rồi một khóa nữa. Tôi không biết thời kỳ 3 tháng này trôi qua lúc nào. Rồi hết tháng này đến tháng khác, hết năm này qua năm khác, hết khóa này đến khóa khác, dòng sông Hằng của Dhamma bắt đầu trôi chảy tại quốc gia, nơi nó khởi nguồn. Khi tôi còn ở Miến Điện, nhiều người ở đó có niềm tin rất mãnh liệt. Thầ ytôi cũng có niềm tin này.Hình như khi Dhamma huyền diệu này được vua Asoka truyền tới Miến Điện. Hai Vị Arahan, hai Bậc Giác Ngộ được gởi đến đó, Sona và Budhada. Khi được gửi đến đó, Thầy của hai Vị này đã nói rằng “Hai Vị hãy mang Pháp bảo này đến một xứ sở, là nơi sẽ duy trì được tinh khiết, nguyên thủy của nó qua nhiều thế kỷ. Phương pháp Thiền này sẽ bị mất đi ở mọi nơi khác, nhưng nó sẽ tồn tại ở xứ đó. Tên nước đó thời ấy là Surbana Burmese, vùng đất vàng, xứ sở hoàng kim. Chính xứ sở hoàng kim này sẽ bảo trì được viên ngọc quý này sau khi Đức Phật qua đời 2500 năm”. Một lần nữa,Pháp bảo này sẽ tới Ấn Độ, được củng cố vững chắc ở đấy, rồi lan truyền đi khắp thế giới. Thầy tôi thường nói: “Bây giờ, 2500 năm đã qua rồi”. Tôi không biết có thể vì tình cờ, đây là năm tôi thọ nhận Dhamma, năm thứ 2500 đã qua và đây là năm đầu tiên của Sāsana (Phật pháp) kế tiếp.

(Ai hứng thú có thể đọc toàn bộ cuốn: Khóa Thiền 10 Ngày - TS. Goenka.)

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2016

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN & KINH VÔ NGÃ TƯỚNG




Theo "Một Cuộc Đời Một Vầng Nhật Nguyệt"

Tác giả: Minh Đức Triều Tâm Ảnh
************************

- Nầy các vị, từ rày về sau không nên gọi Như Lai bằng họ, bằng tên hay bằng những danh từ như hiền giả, hiền hữu (Āvuso) nữa. Như Lai hiện nay đã đắc quả Chánh Đẳng Giác; là một vị Phật, là một đức Thế Tôn, là một bậc Toàn Giác. Như Lai đến đây là để tuyên giảng giáo pháp bất tử đến cho các vị. Với những người có trí thì họ có thể chứng ngộ bằng trí tuệ trực giác ngay chính trong kiếp sống hiện tại này; và họ sẽ thọ hưởng được hạnh phúc siêu thế, thiêng liêng và trong sạch.Đạo sĩ Koṇḍañña (A nhã Kiều Trần Như) không tin điều đó, ông nói:- Quả vị Phật, quả vị Chánh Đẳng Giác là cao quý tột cùng cho những thiện gia nam tử cần cầu xuất ly gia đình thế tục. Nó là cái gì vô cùng thánh hạnh và vô cùng thiêng liêng. Do thế, quả vị ấy không có phần cho người thiếu tinh tấn, yếu đuối, bị ma vương cám dỗ để rơi vào đời sống lợi dưỡng thấp hèn…Đức Phật lại cố gắng giải minh sự hiểu lầm trước đây:- Này các vị! Như Lai chưa bao giờ trở lại đời sống lợi dưỡng. Như Lai chỉ độ thực một các chừng mực, trung đạo. Và Như Lai đã không ngừng cố gắng, tinh tấn, quyết tâm sau khi các vị ra đi. Nhờ vậy, hiện nay, Như Lai đã đắc quả vị Phật, quả vị Chánh Đẳng Giác, đấy là sự thật. Như Lai là người đã tìm ra một loại giáo pháp không đi qua con đường của lý trí nhận thức hoặc suy luận, mà bằng chính trực giác của kinh nghiệm tâm linh tu chứng. Vì nghĩ rằng, giáo pháp bất tử thiêng liêng ấy, nếu được tuyên giảng thì kẻ trí sau khi chú tâm, lắng nghe cũng có thể chứng ngộ được nên Như Lai mới đến đây…
Bốn đạo sĩ khác cũng không tin:

- Trước đây, thầy Gotama có một đời sống khổ hạnh vô cùng nghiêm túc, có một kỷ luật bền gan sắt thép, có một sự tinh tấn tối thượng, có một ý chí và quyết tâm như kim cương chẻ đá - vậy mà không thành tựu được trí tuệ siêu phàm, chưa đạt được cái gì xứng đáng là cao cả. Sau này, trở về với những bát sữa với lợi dưỡng tối thượng, những mâm quả trái cây đầy ắp, những giấc ngủ ngon, những cuộc trò chuyện vô bổ…lại tuyên bố đắc Đạo quả Vô thượng, ngang hàng với chư Phật hay sao?Đức Phật Gotama đã nhẫn nại trình bày sự thật lần thứ hai, lần thứ ba nhưng năm người bạn đồng tu vẫn giữ nguyên thành kiến và sự cố chấp cố hữu, ngài bèn nghiêm nghị hỏi:- Nầy các vị! Từ trước đến nay, các vị đã từng nghe Như Lai nói điều không đúng sự thật lần nào chưa?Họ đều gật đầu đáp:- Điều ấy thì đúng, thầy Gotama nói điều gì thì điều ấy đều y cứ vào sự thật.- Và các vị đã có lần nào nghe Như Lai nói về sự chứng đắc, nói về quả vị Phật, nói về sự tuyên giảng giáo pháp Vô sanh Bất tử như hôm nay hay chưa?- Quả thật là chưa hề!Sau khi xác nhận điều ấy, họ bất giác nhìn ngắm dung mạo, thái độ cử chỉ của đức Thế Tôn; ở đấy dường như có sự định tĩnh của núi Tu-di, sự trầm lặng khôn dò của đáy biển sâu – toát ra năng lượng sung mãn, đầy tràn của bậc giác ngộ. Lại còn hào quang sáu màu từng đôi một lung linh chập chờn như thực như hư, rồi trong suốt, tỏa ra một thứ ánh sáng vừa rực rỡ vừa dịu dàng như mẹ của mặt trời, mặt trăng vậy! Thấy tướng có thể biết được tâm, đạo sĩ Koṇḍañña - vốn là nhà tướng pháp thông tuệ - biết rõ điều ấy hơn ai hết, ông giật mình, quỳ xuống và sụp lạy:- Chúng tôi quả thật là ngu muội, xin ngài bi mẫn xá tội và ngài hãy tuyên giảng giáo pháp sâu mầu ấy!Cả bốn đạo sĩ cùng quỳ xuống với năm vóc sát đất vô cùng tôn kính và nhu thuận.

******

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN
(Dhammacakkappa-vattana sutta)

Để cho năm vị đạo sĩ thay đổi oai nghi, lựa thế ngồi cho thoải mái, đức Phật cất giọng phạm âm với tám tuyệt hảo, bắt đầu thời pháp đầu tiên:- Này các vị! Có hai cực đoan (antā) mà người cần cầu xuất ly vô thượng (pabbajitana) cần phải xa lánh, không nên hành trì. Đấy là hai cực đoan gì? Một là đắm mình vào dục lạc thế gian, sống đời lợi dưỡng, ái luyến, mê si nhục dục ngũ trần (kāmasukhallinuyoga) Nó là cái thấp hèn, hạ liệt (anariya), thô lậu, phàm tục; không xứng với phẩm hạnh của bậc thánh nhân. Hai là kiên trì, nỗ lực tu tập khổ hạnh ép xác (attakilamathānuyoga); đấy là sự hành trì vô ích, vô bổ, chỉ chuốc lấy đau khổ, chỉ mang lại sự chết mà không đem đến giải thoát, chấm dứt phiền não được.Này các vị! Như Lai đã tránh xa hai cực đoan lợi dưỡng và khổ hạnh ấy; vì lợi dưỡng làm cho thân trơ lì, tâm si độn – là lực kéo, là vật cản sự tiến bộ và thăng hoa tinh thần; còn khổ hạnh thì tự bào mòn sự sống, làm cho tinh thần và trí thức đều giảm suy! Từ bỏ hai cực đoan sai lầm ấy, Như Lai đã tìm ra Con đường giữa – Trung đạo (majjhimā paṭipāda). Đây mới chính là con đường xứng đáng của bậc thánh nhân; nó phát sanh tuệ nhãn (cakkhukaraṇī), phát sanh tuệ trí (ñāṇakaraṇī), dẫn đến sự an tịnh phiền não (upasamāya), dẫn đến thắng trí (abhiññāya), dẫn đến Niết-bàn.Này các vị! Có một con đường không đi theo sự khích động của dục vọng thân xác (lợi dưỡng), không đi theo sự triệt tiêu những nhu cầu bình thường, tự nhiên, cần yếu của thân xác (khổ hạnh); đấy là Trung đạo. Còn được gọi là Bát chánh đạo – con đường có tám nhánh: Chánh kiến (sammādiṭṭhi), chánh tư duy (sammāsaṅkappa), chánh ngữ (sammāvācā), chánh nghiệp (sammākammanta), chánh mạng (sammā-ājīva), chánh tinh tấn (sammāvāyāma), chánh niệm (sammāsati), chánh định (sammā samādhi). Lộ trình trung đạo này sẽ vén mở cho ta thấu triệt Bốn sự thật vĩnh cữu của đời sống – là Tứ diệu đế, Tứ thánh đế - dẫn đến Bốn thánh đạo, Bốn thánh quả, chứng ngộ mục đích rốt ráo, tối hậu của sa-môn hạnh là giải thoát, Niết-bàn.

Đức Phật vừa mới nhập đề bằng giọng nói trầm ấm vi diệu, bằng lời, tiếng, câu cú trong sáng, chuẩn xác, bằng những ý tưởng và danh từ hoàn toàn mới lạ - cả năm vị đạo sĩ - vốn có căn cơ sắc bén, thông tuệ nên biết rõ đây đúng là ngôn ngữ của bậc đạt ngộ, của người đã tìm ra sự thật; chúng chưa hề có trong bất kỳ một hệ thống tư tưởng triết học, tôn giáo nào – xưa và nay!

Thấy cả năm đạo sĩ đều chăm chú, nhất tâm vào thời pháp, đức Phật đi vào nội dung trọng yếu:- Nầy các vị! Tứ thánh đế, Tứ diệu đế - Bốn sự thật vi diệu - ấy là gì mà chúng ta cần phải thấu triệt? Thấu triệt chính là thấy rõ, liễu thông, giác hiểu cái chân lý rốt ráo, cái sự thật tột cùng, cái chân đế cao diệu (ariya-sacca) – mà nếu hành trì nghiêm túc, đúng đắn sẽ thành tựu được mục đích xuất trần ly cấu, vô cùng xứng đáng với phẩm hạnh cao cả của những thiện gia nam tử ở trên đời này.Nầy các vị! Thứ nhất là chân lý cao diệu về sự khổ (dukkha-ariya-sacca, khổ thánh đế). Khái quát là có tám cái khổ phủ trùm lên toàn thể thế gian, chi phối toàn bộ đời sống của chúng hữu tình; đấy là: khổ sanh, khổ già, khổ bệnh, khổ chết, khổ vì bất toại nguyện, khổ vì sống chung với những người mình ghét hoặc không ưa thích, khổ vì phải sống xa lìa những người mình yêu thương; và cuối cùng là khổ bởi vì chấp ngã, thủ trước, mê đắm cái thân tâm ngũ uẩn này!

Nầy các vị! Thứ hai là chân lý cao diệu về nguyên nhân, nguồn gốc của sự khổ (dukkha-samudaya-ariya-sacca, khổ tập thánh đế). Như Lai đã tìm ra gốc nguồn của vô vàn khổ đau sai khác ấy chính là ái (taṅhā), do ái chủ mưu, do ái chủ động, do ái dẫn dắt, do ái sai sử, do ái kết buộc, do ái điều hành… Ái là nguyên nhân dẫn dắt tái sanh (ponobbhavika). Ái kết hợp với tâm tham muốn, khao khát, bám víu, thỏa thích, say đắm hoan lạc nơi các đối tượng chiếm hữu hoặc thỏa mãn các mục đích hư tiếu, phù phiếm trong đời sống. Nói rộng hơn, khi ái đeo níu, tham đắm dục lạc vật chất trong sáu cảnh trần thì được gọi là dục ái (kāma-taṅhā). Khi ái cảm thấy dục lạc lục trần ấy cũng chưa đủ, muốn nó thường còn mãi với mình – đi đôi với thường kiến - hoặc tham đắm thiền hữu sắc, trời sắc giới – thì được gọi là hữu ái (bhava-taṅhā). Khi ái thỏa mãn lục trần với tâm lý muốn hưởng mau, hưởng vội, sợ chết là hết – đi đôi với đoạn kiến - hoặc tham đắm thiền vô sắc, cõi trời vô sắc thì được gọi là phi hữu ái (vibhava-taṅhā).

Nầy các vị! Thứ ba là chân lý cao diệu về sự diệt khổ (dukkha-nirodha-ariya-sacca, khổ diệt thánh đế). Là nơi làm cho yên lặng, chấm dứt, tận diệt các ái, tận diệt mọi nguyên nhân sanh khổ, đoạn tuyệt các khổ; nơi mà mọi ái tham, ái luyến, ái chấp phát sanh chìm đắm, trói buộc, trầm luân không còn dư tàn; nơi mà ngôi nhà ngũ uẩn đã được tháo rời; ngã ái, ngã kiến, ngã chấp, ngã thủ không còn bản ngã kiên cố để sở y; nơi không còn gì để luyến ái, dính mắc nữa; và đó chính là giải thoát, Niết-bàn: mục tiêu tối hậu của sa-môn hạnh.

Nầy các vị! Pháp hành dẫn đến giải thoát, dẫn đến sự chứng ngộ Niết-bàn; chân lý cao diệu về con đường dẫn đến sự diệt khổ (dukkha-nirodha-gāminī-paṭipadā-ariya-sacca, khổ diệt đạo thánh đế) này chính là thánh đạo hợp đủ tám chi phần: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Bát thánh đạo ấy là sự thật vi diệu mà chư vị thánh nhân đã chứng ngộ, còn được gọi là Đạo thánh đế, hôm nay, Như Lai sẽ tuyên thuyết cho các vị nghe!Nầy các vị! Tuệ nhãn (paññā-cakkhu) thấy rõ khổ thánh đế đã phát sanh đến Như Lai; tuệ trí (ñāṇa) thấy rõ thực tánh khổ thánh đế đã phát sanh đến Như Lai; tuệ giác (paññā) thấy rõ tất cả khổ đã phát sanh đến Như Lai; tuệ minh (vijjā) thấy rõ, thấu suốt toàn bộ khổ thánh đế đã phát sanh đến Như Lai; ánh sáng trí tuệ (āloka) xua vệt bóng tối của màn vô minh che ám khổ thánh đế đã phát sanh đến Như Lai. Tất cả pháp thuộc khổ thánh đế ấy, trước đây, khi chưa thành Phật, Như Lai chưa từng được biết, chưa từng được nghe; hiện nay, chúng đã phát sanh đến Như Lai rồi. Nhờ vậy, Như Lai như chân, như thật tuyên bố rằng: Tất cả các pháp ở trong tam giới - cái được cấu tạo, kết hợp, hữu vi - dầu sắc pháp hay danh pháp, ngoại trừ tham ái; chúng đều là Khổ thánh đế. Và Khổ thánh đế ấy cần phải hiểu biết, cần phải nhận thức, cần phải liễu tri một cách rốt ráo.Nầy các vị! Tuệ nhãn thấy rõ ái là nhân sanh khổ - là khổ tập thánh đế - đã khởi sanh trong Như Lai; tuệ trí thấy rõ thực tánh ba loại ái đã khởi sanh trong Như Lai; tuệ giác thấy rõ 108 loại ái đã khởi sanh trong Như Lai; tuệ minh thấu suốt mọi nhân sanh khổ thánh đế đã khởi sanh trong Như lai; ánh sáng trí tuệ xua vẹt bóng tối của màn vô minh che ám khổ tập thánh đế đã khởi sanh trong Như Lai. Tất cả các loại ái thuộc khổ tập thánh đế ấy, trước đây, khi chưa thành Phật, Như Lai chưa từng được biết, chưa từng được nghe; hiện nay, chúng đã khởi sanh trong Như Lai rồi. Nhờ vậy, Như Lai như chân như thật tuyên bố rằng: Tất cả các loại ái trong tam giới đều là nhân sanh khổ - là khổ tập thánh đế. Và Khổ tập thánh đế ấy cần phải chiêm nghiệm, cần phải thấy rõ, cần phải hiện quán, cần phải minh sát.Nầy các vị! Tuệ nhãn thấy rõ Niết-bàn là nơi diệt tận tất cá các khổ - là Khổ diệt thánh đế - đã khởi sanh trong Như Lai; tuệ trí thấy rõ Niết-bàn là nơi an vui, tịnh lạc vượt ngoài tương đối, tương đãi, nhị nguyên; tuệ giác thấy rõ hữu dư Niết-bàn, vô dư Niết-bàn đã khởi sanh trong Như Lai; tuệ minh thấu suốt Niết-bàn là nơi Khổ diệt thánh đế đã khởi sanh đến Như Lai; ánh sángtrí tuệ xua vẹt bóng tối của màn vô minh che ám Khổ diệt thánh đế đã khởi sanh trong Như Lai. Tất cả đức tánh, đặc tánh, thực tánh của Niết-bàn ấy, trước đây, khi chưa thành Phật, Như Lai chưa từng được biết, chưa từng được nghe; hiện nay, chúng đã khởi sanh đến Như Lai rồi. Nhờ vậy, Như Lai như chân, như thật tuyên bố rằng: Khổ diệt thánh đế là Niết-bàn, là an vui tuyệt đối, là thực tại như thực, ở ngoài thời gian… Và Khổ diệt thánh đế ấy cần phải có trực giác liễu tri, chứng nghiệm, chứng đạt - không qua ngữ ngôn, khái niệm và lý trí suy luận.Nầy các vị! Tuệ nhãn thấy rõ Bát thánh đạo là pháp hành, là pháp tu tập dẫn đến sự chứng ngộ Niết-bàn – là Khổ diệt đạo thánh đế - đã khởi sanh trong Như Lai; tuệ trí thấy rõ thực tánh Bát thánh đạo đã khởi sanh trong Như Lai; tuệ giác thấy rõ mỗi chi pháp trong bát thánh đạo một cách chi li, mạch lạc đã khởi sanh trong Như Lai; tuệ minh thấu suốt Bát thánh đạo một cách tỏ tường, minh nhiên đã khởi sanh trong Như Lai; ánh sáng trí tuệ xua vẹt bóng tối của màn vô minh che ám Khổ diệt đạo thánh đế đã khởi sanh trong Như Lai. Tất cả tám chi phần, tám nhánh của con đường dẫn đến sự chứng ngộ Niết-bàn ấy – là Trung đạo, là Bát chánh đạo - trước đây, khi chưa thành Phật, Như Lai chưa từng được biết, chưa từng được nghe; hiện nay, chúng đã khởi sanh trong Như Lai rồi. Nhờ vậy, Như Lai như chân, như thật tuyên bố rằng: Khổ diệt đạo thánh đế chính là Bát thánh đạo, là con đường Trung đạo có tám nhánh, là lộ trình dẫn đến sự chấm dứt tái sanh, luân hồi, đoạn tận tất cả khổ đau trong ba cõi, sáu đường. Và Khổ diệt đạo thánh đế không phải để mà trang điểm kiến thức, không phải để mà tích lũy hiểu biết, không phải để mà huyên thuyên giảng nói; nó phải được liễu tri để tu tập, miên mật hành trì, tinh cần, công phu, tỉnh niệm, giác niệm trong từng oai nghi, trong mỗi hơi thở.Nầy các vị! Như Lai đã thấy rõ tất cả chúng, đã thấu suốt tất cả chúng, đã tu tập, đã thực hành để liễu triệt tất cả pháp cần phải liễu triệt, đã chứng đắc tất cả pháp cần phải chứng đắc. Như Lai như thực liễu tri rằng, khi nào trí tuệ thấy rõ, biết rõ thực tánh, chân thật tánh của các pháp một cách hoàn toàn trong sáng, thanh tịnh, vô nhiễm theo ba cấp bậc, ba giác độ tuệ luân - có nghĩa là tuệ học, tuệ hành và tuệ thành trong Tứ thánh đế - thành mười hai thể loại trí tuệ, hợp thành một thấy biết toàn diện và chơn chánh, chưa khởi sanh trong Như Lai, thì cho đến lúc ấy, Như Lai chưa dám xác nhận, chưa dám tuyên bố rằng là Như Lai đã chứng đắc Vô thượng Chánh Đẳng Giác (anuttaro-sammāsambuddho) trước các hàng sa-môn, bà-la-môn, nhân loại, chư thiên, ma vương và phạm thiên trong thế gian, thế giới này!Thấy cả năm vị đạo sĩ chú tâm cao độ nghe pháp, nghe từng lời pháp như sợ rơi mất những giọt cam lồ tịnh thủy, đức Phật biết vậy nên ngài đã kết luận thời pháp bằng giọng nói trầm hùng, mạnh mẽ, khí và lực tuôn chảy dạt dào như hải triều âm va đập giữa ghềnh đá:- Nầy các vị! Nhưng nay thì tuệ nhãn, tuệ trí, tuệ giác, tuệ minh, ánh sáng trí tuệ thấy rõ, biết rõ thực tánh các pháp một cách hoàn toàn trong sáng, vô nhiễm, thanh tịnh - bởi tri kiến tuyệt đối như thực - theo ba bậc tuệ luân trong Tứ thánh đế thành mười hai thể loại trí tuệ đã khởi sanh trong Như Lai rồi – Như Lai mới mạnh dạn xác nhận và tuyên bố rằng: Như Lai đã chứng đắc Vô thượng Chánh Đẳng Giác trước các hàng sa-môn, bà-la-môn, nhân loại, chư thiên, ma vương, phạm thiên trong thế gian, thế giới này! Và như thế là do trí tuệ hiện quán, minh sát, thấy rõ, biết rõ A-la-hán thánh đạo quả đã phát sanh đến Như Lai; tâm của Như Lai đã hoàn toàn giải thoát tất cả mọi phiền não một cách vững chắc, bất động, chẳng có gì lay chuyển được, chẳng có gì có thể làm cho hư mất. Và đây là kiếp chót, là kiếp cuối cùng của Như Lai, không còn tái sanh luân hồi nữa.Đức Phật thuyết xong bài pháp Chuyển pháp luân (dhammacakkappavattana, vận chuyển bánh xe chân lý) này xong, năm vị đạo sĩ khổ hạnh vô cùng hoan hỷ một loại giáo pháp chưa từng được nghe. Riêng đạo sĩ Koṇḍañña chứng được Pháp nhãn (dhammacakkhu) xuất trần ly cấu, tức là đã đoạn lìa được một số bụi bặm phiền não, an trú quả vị Tu-đà-hoàn – ông đã thấy như chân như thật rằng: Pháp hành nào có sanh thì pháp hành ấy có diệt (yaṃkiñcisamudayadhammaṃsabbaṃtaṃniroddhadhammaṃ).

Chư thiên trên địa cầu nghe được thời pháp vô thượng, đồng thanh tán dương ca ngợi rằng: Hôm nay, trong Vườn Nai, tại Isipatana, gần thành Bārāṇasī, đức Thế Tôn đã gióng trống chuyển một bài pháp vô cùng vi diệu; chưa từng có một sa-môn, bà-la-môn, thiên thần, ma vương, phạm thiên hay bất kỳ ai trên thế gian này có thể tuyên giảng được. Nghe như vậy, chư thiên cõi Tứ đại thiên vương, Đao-lợi, Dạ-ma, Đẩu-xuất, Hóa Lạc cũng đồng tán dương, ca ngợi không hết lời. Chư vị phạm thiên ở các cảnh trời sắc giới cùng một lòng xưng tán như vậy. Ngay lúc ấy, ngay sát-na ấy, lời tán dương ca tụng xuyên thấu cõi Sắc cứu cánh thiên; mười ngàn thế giới đều rung chuyển, rung động. Ánh hào quang của đức Chánh Đẳng Giác – thù thắng và oai lực hơn hào quang của chư thiên, phạm thiên cộng lại - tỏa rộng vô biên, chiếu diệu, sáng soi ngời ngời cùng khắp thế gian, thế giới…

Đạo sĩ Koṇḍañña đã thấu suốt, thấy rõ, biết rõ căn bản Tứ thánh đế, diệt tận mọi hoài nghi, chỉ còn tin Phật, tin Pháp chứ không còn tin tưởng vào nơi nào khác nữa.Vô cùng tri ân và vô cùng xúc động, đạo sĩ Koṇḍañña quỳ năm vóc sát đất:- Xin đức Thế Tôn cho đệ tử được thọ giới tỳ-khưu và cho đệ tử được nương tựa.Đức Phật mỉm nụ cười chánh pháp:- Hãy lại đây, này tỳ-khưu! Như Lai xác nhận là ông đã trở thành tỳ-khưu! Giáo pháp mà Như Lai đã khéo tuyên giảng, ông hãy cố gắng thọ trì, tinh tấn thực hành, hãy sống đời phạm hạnh thanh tịnh để đoạn tận khổ đau, chấm dứt sinh tử luân hồi. (Ehi bhikkhu! Svākkhāto dhammo cara brāhmacariyaṃ sammā dukkhassa antaki riyāya).Thế là đạo sĩ Koṇḍañña từ đây được gọi là Aññāsi Koṇḍañña (A-nhã Kiều-trần-như, Kiều-trần-như đã chứng ngộ), là vị tỳ-khưu đầu tiên trong giáo hội của đức Tôn Sư. Hôm đó là đúng vào chiều tối rằm tháng sáu, năm dậu, được hai tháng kể từ sau khi đức Phật thành đạo dưới cội bồ-đề.Đêm ấy, trăng sáng vằng vặc, không khí mát lành - đức Phật ngồi trên một tảng đá giữa Vườn Nai, trú định Diệt thọ tưởng để nghỉ ngơi sau nhiều ngày bộ hành lao nhọc và suốt cả buổi chiều tổn hơi, tổn khí giảng pháp cho năm ông đạo sĩ. Khuya, đức Phật trở lại cận định, khởi tầm và tứ, suy nghĩ như sau:“- Chúng sanh ít bụi cát có thể thấu hiểu được giáo pháp này. Ông Koṇḍañña đã thấy pháp, dòng tâm sẽ từ từ, thuận thứ mà đi vào đạo lộ - nhờ ông là kẻ có trí, chỉ cần cái đại cương, khái quát là ông có thể nắm bắt được. Nhưng các vị kia thì cần phải giảng giải nhiều lần, với nhiều ví dụ cụ thể - họ mới lần tìm được ngữ nghĩa sâu rộng, hiểu pháp và thấy pháp được”Hôm kia, sau khi Koṇḍañña, Mahānāma và Assaji đi khất thực để cung cấp thực phẩm cho mọi người, đức Phật cặn kẽ giảng giải rộng rãi thời pháp cho Vappa và Bhaddiya. Cuối buổi giảng, cả hai vị đạo sĩ đắc Pháp nhãn - Nhập lưu - được đức Phật xác nhận họ đã là tỳ-khưu. Hôm sau nữa, lúc Koṇḍañña, Vappa và Bhaddiya đi khất thực thì đức Phật lại giảng sâu rộng cho Mahānāma và Assaji nghe. Xế trưa thì cả hai đạo sĩ đều đắc quả Tu-đà-hoàn, đức Phật lại chứng nhận thụ giới thêm cho hai vị tỳ-khưu nữa.Thế đến ngày hai mươi tháng Āsāḷha, cả năm vị tỳ-khưu đã mặc y áo tươm tất, tóc râu sạch sẽ bởi họ đã từ bỏ sự hành trì khổ hạnh và cả hình thức khổ hạnh. Họ đều đã có đức tin bất thối, và đang lần hồi bước những bước vững chắc trên đạo lộ bất tử.Từ ngày hai mươi cho đến cuối tháng, thời tiết bắt đầu chuyển mưa – vì bây giờ đã là mùaVassāna - họ bận rộn làm cho mình những cốc lá và đặc biệt làm cho đức Thế Tôn một cốc lá tương đối tốt, tươm tất và ấm cúng. Những khi trời quang mây tạnh, trước đầy đủ năm vị Tỳ-khưu đầu tiên - là những hạt giống bất hoại để gieo trồng chánh pháp trên toàn cõi Diêm-phù-đề - đức Phật lại dùng tuệ phân tích, triển khai rộng rãi và chi li một số tư tưởng giáo pháp dường như đang còn quá mới mẻ đối với họ. Ngài đã chịu khó đi lại từ khổ đế - sự thật, chân lý về khổ - tuy nó đơn giản chỉ có bát khổ là sanh, già, bệnh, chết - sầu bi khổ ưu não - cầu bất đắc, ái biệt ly, oán tăng hội, thủ ngũ uẩn – nhưng đâu phải ai cũng dễ dàng thông suốt. Sự thật về khổ này không phải chỉ hiểu qua danh từ, ngữ nghĩa mà còn cần phải thấy rõ cụ thể ở chính nơi thân tâm mình, sự sống của mình trong tương quan xúc đối và trải nghiệm. Sanh, cái khổ sanh (jāti-dukkha), đầu tiên là chỉ cái khổ trong thai bào, khổ từ lúc tượng hình, khổ phải chịu đựng tối tăm, dơ uế; khổ vì cay, vì nồng, vì nóng, vì lạnh, vì nhầy nhụa, vì hôi hám, vì các cử động, vì sự biến đổi thất thường của tâm lý người mẹ. Khổ sanh – ngay chỉ niệm tái sanh, tìm kiếm cảnh giới, tìm cách đầu thai vào cái quen thuộc, vào cái mà mình ái luyến, mình thích, mình say đắm – đã là khổ rồi! Chính khởi từ cái sanh niệm này mà nó dẫn dắt chúng sanh trôi lăn khắp ba cõi, sáu đường rồi chịu đựng vô lượng hoạn nạn, nghịch cảnh, máu, nước mắt, tai ương và thống khổ!..- Xin đức Thế Tôn, vì lòng bi mẫn – Koṇḍañña thưa bạch - giảng nói rộng rãi và chi tiết về khổ sanh cho chúng đệ tử được hiểu một cách thấu đáo, tận tường mọi ngõ ngách chi ly của nó?- Nầy chư tỳ-khưu, hãy nghe đây, Như Lai sẽ giảng theo yêu cầu ấy. Sanh, ở đây chỉ giới hạn kể từ khi các sắc chất được sinh ra từ sát-na kiết sanh thức kết hợp với tinh cha huyết mẹ(danh sắc). Nó là cái hạt mầm, cái chủng tử trong bất kỳ cảnh giới hữu tình nào. Cái thực thể chúng sanh đầu tiên ấy ở trong thai bào không phải đẹp đẽ như ở trong hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hoa sen trắng – mà phải được hiểu như con dòi sinh ra trong xác cá ươn, trong đống phân thối. Thực thể ấy nó nằm ở phía dưới chỗ chứa đồ ăn (bao tử), phía trên chỗ sẽ xuất chất thải (hậu môn), nằm kẹt giữa bụng và cột sống, rất chật chội, tối tăm, bẩn thỉu; phải chịu đựng các luồng gió hôi hám đủ thứ mùi đáng tởm. Suốt chín tháng mười ngày, cái thực thể chúng sanh ấy phải trải qua vô lượng thống khổ, bị sức nóng như lửa đốt bởi chất hỏa trong bụng mẹ mà không co duỗi, nhúc nhích được. Ngoài ra, khi bà mẹ di chuyển tới lui, nằm ngồi đi đứng, nhất là lúc bị vấp té – thì nó chịu đựng vô cùng đau đớn – như bị kéo giật, tung ngược tung xuôi, đảo qua đảo lại như con rắn ở trong tay người xiếc rắn. Khi bà mẹ uống nước lạnh, nó cảm thấy tê buốt như ở trong địa ngục băng giá. Khi bà mẹ ăn uống vật nóng, nó như bị chìm ngập trong trận mưa than lửa. Khi bà mẹ ăn uống chất mặn, chất chua thì nó như bị ngâm chìm trong nước muối dấm! Đấy là những nỗi khổ cùng cực khi trú trong thai bào mà chúng thai sinh nào cũng phải bị gánh chịu.Nầy chư tỳ-khưu! Khổ trong thai bào là vậy. Khi ra khỏi thai bào, nó phải chịu cái khổ chúc đầu ngược xuống bởi sức mạnh của gió nghiệp; bị tống ra khỏi cái hang tối tăm chật hẹp, thật là kinh khiếp như phải chui qua cái lỗ nhỏ rồi bị nghiền nghiến giữa hai ngách đá, đau đớn tột cùng. Thế rồi, hài nhi vừa ra khỏi bụng mẹ, cái thân thể của nó mỏng manh, nhạy cảm nên khi được bồng ẳm, được tắm rửa lau chùi, nó cảm thấy đau đớn như bị kim đâm, dao cắt…Một vị tỳ-khưu bất giác thốt lên: “Ồ, sự thật này thật là kinh khiếp”Đức Thế Tôn kết luận:-Ừ, khổ sanh là vậy, nầy chư tỳ-khưu! Từ khổ sanh ấy nó đi suốt quá trình cái được gọi là sự sống. Rồi vô lượng nỗi khổ trên cuộc đời cũng từ cái khổ sanh ấy mà ra. Nó là căn để của mọi nỗi khổ nên Như Lai khi tuyên giảng về khổ đế, Như Lai đặt khổ sanh lên đầu tiên như là điều kiện quyết định duyên sanh các khổ.Rồi khổ già (jarā-dukkha)? Đức Thế Tôn tiếp tục - Già, hàm chỉ làn da nhăn nheo, co rúm lại như quả mướp đắng phơi khô; mái tóc xanh mơn thuở nào bây giờ như tro than lấm tấm hoặc bạc phếch; đôi mắt biếc thắm thời trai trẻ chỉ còn là cái hố ghèn, lờ mờ đục trắng không thấy gì. Rồi còn hàm răng chỉ còn như tro xỉ, đau nhức, sâu đục mà rơi rụng lần lần. Tai thì bắt đầu điếc lãng, nghễnh ngãng. Chiếc lưng bây giờ cong gập như cái đòn xay. Chân tay lập cập, run rẫy, đau cốt, nhức xương, ăn ngủ không được, lú lẩn, nói trước quên sau… Nói cách khác già lão là đặc tính của hữu vi, nó chỉ cho các căn bị suy yếu, hư hoại, sức lực giảm mòn, tuổi trẻ biến tan, trí nhớ bị phá sản, trí tuệ sút kém… Khái quát, nó là toàn bộ sự lụi tàn, hủy hoại, già úa của từng phân tử, nguyên tử, tế bào; vô thường, lão suy từng sắc chất, huyết tố, từng năng lực, khí lực của chúng hữu tình. Khi cái thân già, kéo theo cái tâm già; đôi khi không chỉ khổ ở nơi thân mà còn duyên sanh khổ ở nơi tâm là sầu, bi, ưu, não nữa…Về bệnh, về khổ bệnh (byādhi-dukkha)- chúng là cả hằng trăm loại bệnh, hằng ngàn loại bệnh khi mang thân xác hữu vi. Chúng có từ ngũ cốc, hoa quả, rau trái, các loài động vật trong vườn nhà, trong rừng, trên trời, dưới sông biển ao hồ; chúng đến từ trong nước, trong không khí; chúng đồng sanh, duyên khởi với các cư dân, cộng đồng tại các thị tứ đang phát triển; chúng còn do ăn nhiều, ngủ nhiều, làm việc nhiều, suy nghĩ nhiều; chúng còn do thời tiết nắng mưa, nóng lạnh thất thường; và cuối cùng, chỉ cần khí huyết đảo lộn, tứ đại bất hòa cũng đủ cho ta thấy rõ cái khổ bệnh của thân. Trong tứ đại, chỉ cần một đại thịnh, hay một đại suy đã sinh bệnh rồi. Bệnh có từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Ở nơi thân thì có bệnh ở nơi da, nơi răng, nơi thịt, nơi gân, nơi xương, nơi tủy, nơi thận, nơi tim, nơi gan, nơi hoành cách mô, nơi lá lách, nơi phổi, nơi ruột non, ruột già, bao tử. Cũng có bệnh do não, do mật, do đàm, do nước tiểu, do máu, do mỡ, trong khớp xương, trong tủy sống… Có bệnh chữa được, có bệnh không thể chữa được. Và dường như cứ mỗi mười năm, mỗi trăm năm, con người phải đối diện với những căn bệnh mới; nó tăng trưởng theo sự sinh hoạt vật chất thịnh mãn của con người. Nói tóm lại, có thân là bị chi phối bởi các định luật của vũ trụ; đó là phải chịu ảnh hưởng của ngày đêm, nắng mưa, nóng lạnh, mặt trời, mặt trăng, các lực, các khí, các nghiệp tương tác trong vạn hữu. Có thân là có bệnh, và bệnh nào cũng khó chịu, đau đớn, thống khổ cả. Còn chết, về khổ chết (maraṇa-dukkha)- cũng tương tự vậy, trăm cái chết, ngàn cách chết sẽ chờ đợi để tước đi sanh mạng của chúng sinh. Chết do đói quá, chết do no quá, chết do nước, do lửa, do lũ, do bão, do tai nạn, do ốm đau, do vũ khí, do độc chất; chết do thiếu máu, do dư máu, do mật, do đàm, do khí, do tim, do gan, do thận… Tóm lại là chết do hết tuổi thọ, chết do nghiệp, chết do bởi hằng trăm loại nghiệp, chết do hết phước báo hoặc do hằng trăm lý do khác nhau. Chúng đến từ bên ngoài hay tự bên trong thân thể - và, sớm trưa chiều tối, ngày đêm lúc nào bóng dáng của tử thần cũng lãng vãng với lưỡi hái trên tay… Nói cách khác, chết là đặc tính tự nhiên của pháp hữu vi. Nó cắt đứt mạng căn. Nó biểu hiện sự vắng mặt trong các sanh thú. Nó làm rơi rụng khỏi kiếp sống; ung thối, rữa nát mọi sinh mệnh.Tất cả khổ chết ấy, quả thật là đáng sợ, nhưng chúng chỉ là cái khổ thô tháo, khổ thuộc về vật chất; chúng hữu tình từ giai đoạn sanh đến tử còn bị chi phối bởi những nỗi khổ thuộc về tinh thần nữa, đó sầu, bi, ưu, não.Rồi đức Thế Tôn còn chịu khó, cặn kẽ nói về sầu, về khổ sầu (soka-dukkha), đặc tính của sầu, tác dụng của sầu lên toàn bộ thân tâm. Sầu được hiện ra bên ngoài là cái buồn bã, là cái rầu rĩ, là cái sầu muộn, là cái héo úa, xanh tái của làn da mặt; nhưng bên trong là sự mệt mỏi, chán chường của các tâm sở. Nó còn là sự đốt cháy âm ỉ, liên lỉ; tuy không bốc thành lửa ngọn nhưng làm cho con tim héo úa, gan ruột như bị xào nấu trong chảo với lửa riu riu ở bên dưới.Bi, khổ bi (parideva-dukkha), được biểu lộ bên ngoài là khóc than, rên rỉ, kể lể… Là cái khổ cao hơn sầu một bậc. Lửa bị nung đốt bên trong cũng mạnh hơn nên nó làm cho tim gan khô cháy, làm cho môi khô, cổ rát, lưỡi đắng…Ưu, khổ ưu (domanassa-dukkha), là cái khổ đã len sâu, thấm đẫm ở trong tâm hồn. Là sự bức bách, thống khổ đã cao hơn bi một bậc. Nó làm cho sự lo buồn, lo nghĩ cứ như là thốn đau, nhức nhối tận tâm can. Ai bị nanh vuốt của ưu tóm lấy – do bị lửa nung đốt bên trong – thì kẻ đó than khóc, bứt tóc bứt tai, đấm ngực, lăn qua lộn lại, vật vã, đớn đau ê chề… không kiểm soát mình được nữa.Não, khổ não (upāyāsa-dukkha), đây là sự khổ đã đến chỗ cao độ, đã đến chỗ thất vọng, tuyệt vọng hoàn toàn. Tuy không còn biểu hiện lộ liễu ở bên ngoài như ưu, bi nhưng nó tương tự như sau khi xào nấu, tim gan ruột đã teo tóp, khô quắp lại. Nếu sầu, bi, ưu, não đi chung với nhau, kết hợp với nhau hoặc đồng sanh thì dễ dẫn đến uống thuốc độc, treo cổ, cắt mạch máu hoặc tự sát với con dao!Sầu bi ưu não ở trên đôi khi còn do kết hợp với cầu bất đắc khổ (yampicchaṃ na labhati tampi dukhaṃ), tức là mong muốn, mong cầu (icchaṃ), ước nguyện cái gì đó mà không được, không thành (na labhati) nên sinh ra khổ. Càng sống, càng lớn khôn, càng trải nghiệm cho đến khi kề bên nấm mồ, con người mới thấm thía rằng: cuộc đời là cái gì chung thân bất nghịch ý, bất như ý, bất toại nguyện! Không có một nhu cầu thỏa mãn nào, qua mắt, tai, mũi, lưõi, thân có thể làm cho con người vừa lòng, toại nguyện; chúng luôn luôn cảm thấy thiếu thốn, không được vừa ý; do vậy thúc hối chúng đi tìm để thỏa mãn nữa. Nhục dục ngũ trần thì càng uống, càng khát – và rồi càng tầm cầu thỏa mãn càng đối diện với hư vô, bị hư vô nuốt chửng hay bị hư vô thiêu cháy! Ngay chính các mục tiêu, ước mơ, lý tưởng khởi từ tình yêu, sự nghiệp, tiền bạc, danh vọng, địa vị… chúng chỉ là cái rỗng không, bất toàn; ngay cả khi có nó, lúc thành tựu được, lúc nắm bắt được thì chúng không phải thế, chúng là cái khác, chúng còn ở trước mặt, còn ở truớc tầm tay với! Điều này là sự thực, là chân lý – nên bất toại nguyện khổ chi phối toàn bộ nhân loại, chư thiên, phạm thiên – không chừa một ai! Ái biệt ly khổ (piye hi vippayogo dukkho), tức là người và vật mà mình thương yêu, vừa lòng (piya) thì phải bị chia biệt, lìa xa(vippayoga), sinh ra loại khổ này. Thế là biết bao nhiêu yêu thương, trìu mến, luyến ái bị chặn bít, bị cắt đứt, bị ngại duyên làm cho ta bị tổn thuơng, sầu muộn, đau khổ. Nó còn có nghĩa là bị tách rời, đoạn tuyệt cái gì đáng thích, đáng ưa. Nó làm ta mất liên lạc với thế giới và môi trường thương yêu quen thuộc. Nó còn là sự mất cha, mất mẹ, mất vợ, mất chồng, mất con, mất cháu, mất thầy, mất bạṇ, mất tài sản, mất sự nghiệp…Oán tăng hội khổ (appiyehi sampayogo dukkho), tức là người mà mình thù oán, mình ghét, mình không ưa, không vừa lòng (appiya) thì phải thường gần gũi, tiếp xúc, thân cận(sampayoga) mà sinh ra khổ này. Thế là biết bao nhiêu là bực bội, khó chịu, oán ghét có thể đưa đến hận thù cứ đốt lửa âm ỉ trong lòng…Nói tóm lại, ngũ thủ uẩn khổ (pañcupādānakkhandhā-dukkhā) - là khi có sắc thân này, cócảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức; và nhất là bám víu vào nó, chấp thủ nó, ái luyến nó, nhận nó là ta, là của ta thì vô lượng thống khổ sẽ duyên sinh, khởi sinh đến trùng trùng, bất khả hủy diệt. Toàn bộ ấy là sự thật về khổ, là khổ đế, chi phối các chúng hữu tình.Như vị lương y siêu việt, sau khi xem bệnh chứng, muốn chẩn trị có hiệu quả phải tìm cho ra căn do, nguyên nhân, nguồn gốc của bệnh; cũng vậy, đức Phật lại cặn kẽ trình bày về gốc nguồn phát sanh khổ đế - chính là ái!Đức Phật dạy:- Nầy chư tỳ-khưu! Ái chính là khổ tập đế! Ở đâu, lúc nào, phạm vị nào, hoạt dụng nào cũng có ái. Nó có từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Nó có từ sắc thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nó có từ quá khứ, hiện tại, vị lai. Nó có từ cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc. Nó có cái thô, có cái tế, có cái thanh, có cái trược, có cái gần, có cái xa, có cái thấy được, có cái không thấy được. Ở đâu, lúc nào, phạm vi nào, hoạt dụng nào mà có phát sanh vừa lòng, ưa thích, thích thú, yêu mến, yêu thương, thích khoái rồi đưa đến mê say, chìm đắm, mong được thỏa mãn, hỷ đắc – thì nơi ấy có ái! Lại còn có ái ít người thấy là mong mình trẻ mãi, xuân mãi, sức khỏe mãi; những sở hữu cả vật chất và tinh thần của mình đều được thường tồn, kiên cố, bất hoại; rồi còn mong linh hồn của mình được trường cửu! Đôi khi cảm thấy hạnh phúc trần gian phù du, bọt bèo quá, họ muốn tu hành để sống đời trường xuân, bất lão ở các cõi trời có dục vật chất được phóng đại tột cùng! Có trường hợp ngược lại, là sợ mình chết là hết nên tìm cách hưởng mau, hưởng vội, tìm đủ mọi cách để thỏa mãn tận cùng không kể đến lẽ phải, đạo đức, tình người và tình sanh loại! Ôi, ái tràn ngập ba cõi, bốn loài! Ái là đầu mối, là cộng sinh với tham lam, sân hận, si mê. Ái được thì tham; ái không được thì sân - rồi từ đó phát sanh cả một rừng tâm lý hỗn mang, sâm si gai chông lùm bụi của tật của đố, của bất mãn, của phản bội, vô ơn, bạc bẽo, chán chường, kiêu ngạo, hống hách, máu lửa, chiến tranh, hận thù… phủ trùm lên hoàn vũ, lên sinh mệnh các giống hữu tình…Và rồi nầy chư tỳ-khưu! Ái diệt là Niết-bàn. Niết-bàn là khổ diệt đế! Ái diệt là nguội tắt tham sân. Ái diệt là sự chấp thủ ngũ uẩn không còn nữa. Ái diệt là căn nhà bản ngã được công phu xây dựng từ vô lượng kiếp bị phá tan; bao nhiêu cột, kèo, rui, mèn, đòn tay, đòn dông, tường vách, mái lợp… bị trí tuệ giải thoát đốt cháy không còn dư tàn. Thế rồi, niềm vui siêu thế hiện ra. Vô lượng bệnh khổ không còn nữa. Sinh tử trầm luân trong ba cõi, sáu đường không còn nữa. Tuy nhiên, Niết-bàn không nằm trong lý trí, tư duy, suy luận, ngữ ngôn, khái niệm; nó phải được thực chứng; nó phải được thấy ngay, thấy thẳng bởi tuệ giác vô vi, vô nhiễm. Đây là chân lý tối hậu, là sự thực tối hậu – không còn bị chi phối bởi thế giới hữu vi hạn cuộc, không còn bị quy định bởi thời gian và các phạm trù ước lệ nữa. Nó siêu xuất ba cõi. Tạm gọi nó là cái phúc lạc thâm sâu, tuyệt đối, không thể nghĩ bàn!Thời pháp giảng đến ngang đây thì hôm đó trời đã quá khuya, năm vị tân tỳ-khưu thưa thỉnh đức Phật nghỉ ngơi. Thời pháp đã được đức Thế Tôn phân tích chi ly, cặn kẽ như thế nhưng cứ vẫn tồn đọng trong tâm trí các vị tân tỳ-khưu nhiều câu hỏi, nhất là Niết-bàn. Đêm đó dường như cả năm vị không ngủ nghỉ, cứ mải lầm thầm trò chuyện. Và đây là những câu hỏi tồn nghi:- Niết-bàn không nghĩ suy được, không lý giải được thì nó có phải là phi hữu – như lông rùa, sừng thỏ?- Niết-bàn vắng mặt ngũ uẩn, như vậy thì nó còn gì, hư vô chăng?- Đặc tính của Niết-bàn là sự hủy diệt chăng? Nó hủy diệt cấu uế, hủy diệt tham sân si, hủy diệt các sanh thú – vì nó không còn tái sanh?- Niết-bàn không phải hữu vi nên nó là phi sở tạo?- Niết-bàn không do tạo tác, không có già chết, vậy nó thường trụ chăng?Koṇḍañña nói nhỏ với các bạn:- Những câu hỏi ấy hay lắm, nhưng bài pháp đức Thế Tôn chưa giảng xong, chúng ta đừng làm phiền đến ngài. Hãy kham nhẫn chờ đợi!Những ngày sau đó, lúc thì ngoài trời, lúc thì trong am cốc, đức Phật lại tiếp tục triển khai rộng rãi bài pháp Tứ thánh đế:- Niết-bàn như đã trình bày, chắc chắn là còn điểm chưa được sáng tỏ. Chưa được sáng tỏ nên có sự nghi ngờ, nghi hoặc là lẽ dĩ nhiên. Chỗ đến là như vậy, mục đích của sa-môn hạnh là như vậy; nhưng còn lộ trình đi đến đó nữa – con đường hành trì - tức là đạo lộ dẫn đến Niết-bàn.Sau đó, đức Phật đưa ra bản đồ tâm linh - lộ trình trung đạo - như đã khái quát dẫn lược, là Đạo đế! Lại một lần nữa, đức Phật chi ly trình bày ngữ nghĩa từng danh từ một. Con đường bát chánh khởi đầu bằng chánh kiến – cái thấy chơn chánh – cái thấy viên dung, tròn trặn, trong suốt, như chân, như thực: Cái thấy Tứ thánh đế. Nói cách khác, chánh kiến là cái thấy chưa bị méo mó, sai lệch hay bị khúc xạ bởi lý trí, tư duy, các trạng thái tâm lý hay tình cảm chủ quan: cái thấy đúng như thực tướng! Chánh kiến ấy là chánh kiến siêu thế, vô lậu và không có sanh y – dành cho bậc vô học. Cũng có một loại chánh kiến khác nữa. Đấy là thấy rõ thiện, bất thiện, khổ báo, phước báo, nhân quả, kiếp này, kiếp kia, luân hồi tử sanh… Nó thuộc tại thế, hữu lậu, còn sanh y – dành cho bậc hữu học. Cả hai loại chánh kiến trên đều loại trừ tà kiến, loại trừ thường kiến, đoạn kiến; loại trừ kiến kiết phược, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến điên đảo của tất thảy sáu mươi hai tà kiến trên thế gian! Khi có được cái chánh kiến ấy rồi mới có được chánh tư duy- tức là suy nghĩ đúng, suy nghĩ chơn chánh! Đây là do nhờ cái thấy đúng dẫn đến suy nghĩ đúng- chứ không phải có một cái chánh để suy nghĩ! Và, nếu có một cái chánh để hành trì thì cái chánh ấy cũng trở thành cái bị chấp thủ, trở thành cái bóng của ái, của ngã, của kiến. Chánh tư duy phải cần được hiểu là nó thuộc phạm trù đức lý, đạo hạnh. Muốn biết cái chánh ấy là gì thì chỉ cần xa lìa dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy. Xa lìa dục tư duy có nghĩa là đừng suy nghĩ về sắc thanh hương vị xúc, phải hướng đến sự khước từ, xa lánh, xuất ly chúng (nekkhamma-saṅkappa); nhờ vậy, vị ngã, tham dục, tham ái không có cơ hội nẩy mầm! Xa lìa sân tư duy cũng có nghĩa tương tự, là đừng có suy nghĩ đến chuyện nóng nảy, ganh ghét, bực tức; khi mà các thuộc tính của sân này được làm cho dịu, cho mát đi thì ta có được trạng thái tâm vô sân(avyāpada-saṅkappa, tư duy vô sân) rất gần gũi với tâm từ. Cái tư duy thứ ba – xa lìa hại tư duy- tức là đừng có nghĩ đến chuyện ác ý hại người hoặc nuôi dưỡng niệm hung bạo. Nói cách khác, khi ấy là ta đã có được vô hại tư duy (avihimsā-saṅkappa), hỗ trợ thêm cho vô sân ở trên để có được một đầu óc minh mẫn, sáng suốt, một cái tâm trong trẻo, mát lành. Từ cái tâm ấy, cái trí ấy mà tư duy – thì tư duy nào cũng thiện, cũng lành, cũng tốt, cũng đẹp, cũng thanh lương, cũng cao thượng, cũng ưu thắng cả! Chánh tư duy dẫn đến chánh ngữ - lời nói chơn chánh, lời nói đúng với sự thực, như thực! Chánh ngữ còn nội hàm: lời nói ấy phải y cứ trên cái thật, cái sự thật(chân); lời nói ấy phải lành, tốt, thiện ích (thiện); lời nói ấy phải dễ nghe, dễ hoan hỷ cái lỗ tai(mỹ). Ba yếu tố ấy mà thiếu một thì xem như chánh ngữ còn bất toàn, chưa trọn vẹn. Với nội dung tốt đẹp, tuyệt bích của chánh ngữ, như vậy thì lời nói nào cũng đem đến lợi ích cho mình và cho người. Nói lời đầy đủ như vậy thì vô hình trung, đã loại trừ lời nói dối, nói sai sự thật, nói vu oan, vu cáo, nói lời độc ác, hung dữ, phỉ báng, nhiếc móc, nhục mạ; cũng tránh nói lời hai lưỡi, đâm thọc, dệt gấm thêu hoa, nói trơn như mỡ, nói ngọt như đường hoặc thêm mắm, thêm muối, thêm gia vị cho bùi tai; phải tránh nói lời cộc cằn, thô lỗ, nói lời đâm bị thóc, thọc bị gạo; cần tránh nói lời tục tĩu vô duyên, nói lời phù phiếm, rỗng tuếch làm kẻ trí nhàm tai. Tóm tắt làcấm dối vọng, ác khẩu, ỷ ngữ, phù phiếm. Chánh ngữ dẫn đến chánh nghiệp - tức là nghiệp hành chơn chánh - thân chơn chánh. Thân chơn chánh hoặc thiện thân hành - tức là thân không làm điều tà vạy, bất chánh, điều ác, điều mà thế gian chê trách; tức là cấm sát, đạo và dâm. Thứ nhất là không sát sanh hại người, hại vật, biết tôn trong sự sống của các loài hữu tình, ngay cả vô tình như cây cỏ cũng không nên chặt phá, đốt bỏ một cách bừa bãi. Thứ hai là chẳng nên trộm cắp, khoét tường, nạy tủ lấy tài sản, của cải, vật có giá trị hay không có giá trị thuộc sở hữu của người khác. Thứ ba là cấm tuyệt tà dâm, tà hạnh, rủ rê, dụ dỗ chung chạ với vợ con người; riêng bậc xuất gia thì phải sống đời phạm hạnh thanh tịnh. Còn nữa, chánh nghiệp dẫn đến chánh mạng – nuôi mạng chơn chánh - tức là tránh xa cách nuôi sống tà mạng do thân và khẩu. Có cái thân là phải nuôi dưỡng nó; cho nó ăn cơm, mặc áo, cho nó uống thuốc khi bệnh, cho nó cái chỗ để nó ngủ nghỉ, tránh nắng mưa, nóng lạnh, rắn rít, muỗi mòng… Đời sống các tộc người thuộc các bộ lạc sơ khai, nhu cầu ít nên các phương tiện vật chất để sinh sống khá đơn giản. Khi các thôn ấp, làng xóm được thành lập thì những đòi hỏi về tiện ích, tiện nghi cứ tăng lên mãi; và đời sống với những nhu cầu về ăn, mặc, ở, thuốc men càng phức tạp, càng rối rắm. Con người do những tầm cầu, săn tìm vật chất, của cải đã bắt đầu nhúng tay vào cái ác, nhu cầu ngày càng nhiều thì cái ác càng tăng. Cái ác càng tăng thì những thói hư, tật xấu, gian tham, ích kỷ, lường gạt, xảo quyệt, sân độc, hung bạo… cứ thế mà tự do mọc rễ, đâm chồi. Tại các thành phố, thị tứ phát triển thì vấn đề nuôi mạng đã trở nên đa dạng, phong phú, nhiều chiều. Nhu cầu, vật chất, phương tiện ăn ở, sinh hoạt càng đòi hỏi đáp ứng thì các nghề nghiệp bất chánh thi nhau mọc lên như nấm. Do vậy, những bậc thiện trí, những kẻ hiền đức xưa và nay - trước hiện trạng xã hội và con người sa lầy, mê đắm dục vật chất như thế – đã biết tự ngăn giữ mình, khuyến hóa mình phải tránh xa các nghề nghiệp được xem là tà mạng như sau: nghề sát sanh hại vật, nghề buôn bán vũ khí, nghề dao thớt bán mua các loài động vật, nghề bán mua các loại độc dược, nghề chưng cất, bán mua rượu men, rượu nấu… Nuôi dưỡng cái thân, cưng chiều cái thân, ái luyến cái thân càng nhiều thì ác nghiệp càng lớn. Một thiện gia nam tử sống giữa cuộc đời thật khó giữ cho bàn tay mình thanh sạch; ít nhiều phải bị dính bùn, nhuốm bụi. Riêng bậc xuất gia do nhu cầu đơn giản, chỉ có chiếc mỏ (bình bát), đôi cánh (y nội, y ngoại), mà thong dong biển rộng sông dài. Họ ăn vừa đủ, mặc vừa đủ, ngủ đâu cũng được, thuốc men thì có nước tiểu, phân bò, rễ củ đó đây. Tứ sự càng dị giản thì đời sa-môn hạnh càng thanh nhàn, vô sự. Nghề nghiệp nuôi mạng chơn chánh của sa-môn là ăn vật thực người ta cho, người ta cúng dường; mặc y áo do vải lượm, do người ta quăng bỏ ở nghĩa địa, giữa rừng, góc chợ, ven đường. Thuốc men hoặc chỗ ngủ nghỉ cũng tương tợ vậy – cái gì người ta chưa cho, chưa trao tận tay với thành ý mà mình tự ý lấy dùng, sử dụng, chiếm hữu hoặc nói ướm, nói lời gợi ý – thì đấy chính là tà mạng!Khi mà đã có kiến, tư duy như ngọn đèn thắp sáng tâm và trí rồi thì ngữ, nghiệp, mạng là giai đoạn hoàn thiện thân, khẩu, hoàn thiện đức hạnh bản thân. Khi bản thân đã chính đính, nghiêm túc, mẫu mực rồi– ta còn cần phải cố gắng, tích cực nuôi dưõng tâm ý thiện lương, lánh xa ác niệm – và đấy là chánh tinh tấn - nỗ lực chơn chánh. Trong tâm ta có cái mầm ác và có cái mầm thiện. Mầm ác thì đừng cho nó nhú lên, nếu đã nhú lên rồi thì quyết tâm cắt bỏ, đào bứng nó đi. Mầm thiện thì chăm chăm, khéo léo, cố gắng làm cho nó nhú ra, nếu đã nhú ra rồi thì nâng niu, săn sóc, tích cực thêm phân thêm nước cho nó mau phát triển tỏa thành cây xanh, bóng mát! Nói cách khác, chánh tinh tấn là một công phu quyết liệt để loại trừ những trạng thái tâm lý xấu, ác; và nuôi dưỡng, trưởng dưỡng những trạng thái tâm lý lành, tốt! Đơn giản chỉ có vậy nhưng mà nhiêu khê, vất vả vô cùng – nên đi trước nó đã có kiến, tư duy, ngữ nghiệp, mạnghỗ trợ, thêm sức mạnh, tạo môi trường thuận lợi. Và, có lẽ, như vậy cũng chưa đủ - nên sauchánh tinh tấn là chánh niệm – chú tâm chơn chánh – chú tâm theo dõi bốn chỗ thường duyên sanh các pháp bên trong lẫn bên ngoài: Ấy là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp – tức làTứ niệm xứ! Phiền não, khổ đau cũng ở đấy, mà an tịnh, Niết-bàn cũng ở đấy! Công phu thanh lọc mọi bụi bặm, mọi ô nhiễm thân tâm, thấy rõ thực tướng các pháp phải được bắt đầu từ đây -chánh niệm – tức là chú tâm theo dõi, ghi nhận mọi động tịnh, mọi tác động đến từ sắc thân, các cảm thọ, các trạng thái tâm cùng với đối tượng danh pháp, sắc pháp. Chánh niệm giúp ta không lơ là, không quên, không thất niệm, làm cho tâm được an lập, kiên trú để hỗ trợ cho chánh định…Đức Phật giảng đến đây, lúc đang nghỉ hơi, tỳ-khưu Bhaddiya hỏi:- Bạch đức Thế Tôn! Niệm thân chính là niệm cái sắc thân này - từ hơi thở vô ra, các oai nghi đi đứng nằm ngồi và cả ba mươi hai thể trược – hay còn gì khác nữa?- Đúng vậy, này Bhaddiya, nhưng còn nữa - đức Phật nói - kể cả tứ đại cấu thành, kể cả khi quán tưởng các hình dạng tử thi tan rã dần dần nơi nghĩa địa.- Xin đức Thế Tôn giảng rõ thêm về niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp cho chúng đệ tử dễ lãnh hội? Tỳ-khưu Assaji hỏi.- Niệm thọ tức là tất cả mọi cảm thọ - khổ lạc xả hỷ ưu - đều phải chú tâm ghi nhận một cách trung thực. Một cảm giác nẩy sinh, nó sẽ tác động toàn bộ tâm sinh lý, cảm giác ấy nó khó chịu(khổ), dễ chịu (lạc), trung tính (xả), hân hoan (hỷ) hay bực bội (ưu) đều được ghi nhận một cách như thực, đừng giảm trừ nó, đừng khống chế nó mà cũng đừng thỏa hiệp. Nó đến như thế nào, nó an trú như thế nào, nó ra đi như thế nào – đúng với định luật sinh diệt - đừng bị xác lập hay bị quy định bởi các tâm lý chủ quan! Phải lấy như chân như thực - như thực tánh – mà quán niệm!Niệm tâm thì chú tâm ghi nhận tất cả mọi trạng thái tâm lý xảy ra nơi tâm: tham, sân, si hay vô tham, vô sân, vô si; kể cả tâm dục giới, sắc giới, vô sắc giới; kể cả tâm có giải thoát phiền não hay tâm chưa được giải thoát phiền não. Niệm pháp thì phức tạp hơn, vì nội hàm pháp rất lớn rộng. Tuy nhiên, ta chỉ khu biệt, giới hạn những pháp thuộc đối tượng của tâm trên lộ trình tu tập. Khi tu tập, ta sẽ thấy rõ những pháp che lấp, chướng ngại như sự mệt mỏi, bải hoải của các tâm sở (thīna, hôn trầm), sự dã dượi, buồn ngủ của thân (middha, thụy miên), nghi nan, ngờ vực về thiện pháp, pháp hành (nghi, vicikicchā); nóng nảy, bực bội, khó chịu (sân, vyāpada), lay động, phóng dật (trạo cử, uddhacca) hoặc ăn năn hối hận (hối quá, kukkucca); và tham muốn nhục dục (dục lạc, kāmachanda). Lúc tu thiền định thì năm pháp che lấp, chướng ngại ấy sẽ được đối trị, làm cho yên lặng do nhờ sự xuất hiện của năm thiền chi; ấy là tầm (vitakka),tứ(vicāra), phỉ (pīti), lạc (sukha) và nhất tâm (ekaggatā). Đấy là những pháp cần được ghi nhận. Ngoài ra, năm uẩn, mười hai nhân duyên, bảy giác chi… đều là pháp phải quán niệm, ghi nhận một cách trung thực.- Bạch đức Thế Tôn! Vậy là trong niệm có định? Mahānāma hỏi.- Niệm hỗ trợ cho định, niệm dẫn đến định, trong niệm có định mà niệm như thực tánh còn dẫn đến tuệ nữa - đức Phật lại ân cần giải thích – Tuy nhiên, điều ấy Như Lai lại để dành một dịp khác. Còn rất nhiều pháp ẩn tiềm trong bài giảng cô đọng ở trên, muốn hiểu cho tận tường, thấu đáo, thông tỏ, Như Lai phải liễu giải nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm, thậm chí cả trăm năm, ngại rằng cũng không nói hết!Nghe vậy cả năm vị tân tỳ-khưu lặng lẽ đưa mắt nhìn nhau. Họ thấy rằng, đức Phật dường như có cả một kho tàng; càng giảng càng thấy rộng và sâu, càng giảng, họ càng nghe những điều mới lạ; và quan trọng nhất là tâm họ càng an tịnh, trí họ càng sáng tỏ. Đúng là pháp mầu vi diệu, đúng là pháp mầu bất tử. Họ nghe mà như uống từng chữ, từng lời: ngọt, thanh, thù thắng, mênh mông và sâu nhiệm!- Nầy chư tỳ-khưu! Còn chánh định nữa! Định thì các vị đã từng tu tập, từng chứng đắc, dù thấp hay cao theo tôn giáo truyền thống, các vị đã biết rõ rồi. Định tối thượng nhất trong tam giới là định vô sở hữu và định phi phi tưởng từ hai bậc đạo sư Ālāra Kālāmagotta và Uddaka Rāmaputta – thì Như Lai cũng đã từng chứng đắc, nhưng tại sao Như Lai lại bỏ đi? Như Lai bỏ đi vì chúng không đưa đến tuệ nhãn, tuệ trí, tuệ giác, tuệ minh, giác ngộ, giải thoát. Các định ấy còn ở trong sinh tử. Cả hai vị đạo sư còn dính mắc, không chịu lìa bỏ, còn chấp thủ, còn sở hữu xả và nhất tâm, còn an trú trạng thái phúc lạc thâm sâu của xả và nhất tâm ấy – nên Như Lai bảo đấy không phải là chánh định. Còn kiến chấp và ngã chấp, còn thỏa hiệp với sinh tử thì không phải chánh định. Trước các vị là những vị tỳ-khưu đầu tiên trong giáo pháp bất tử này, Như Lai tuyên bố rằng: chỉ có định xuất thế, chỉ có định của các vị đắc tứ thánh, tứ quả - có đối tượng là Niết-bàn – thì định ấy mới là định chơn chánh, là chánh định!Cả năm vị tỳ-khưu đều ớn lạnh, rùng mình, nổi gai ốc! Hóa ra các định mà họ an trú bấy lâu nay không phải là chánh định, vậy là tà định chăng? Một sự đảo lộn tri kiến như thế đã làm cho họ bàng hoàng, run sợ!Chợt Koṇḍañña hỏi một câu rất xác đáng:- Bạch đức Thế Tôn! Vậy thì có một định khác - định giải thoát - mà ngài đã an trú từng đêm?Đức Phật mỉm nụ tiếu sanh tâm, đáp rằng:- Không có cái gọi là định giải thoát ấy, này Koṇḍañña! Thấy cả năm vị đều rơi vào sự bối rối, ngơ ngác - Đức Phật bèn mở nút – Khi tâm giải thoát, khi tuệ giải thoát trú vào định nào – thì định ấy đều được gọi là định giải thoát – các vị cứ như thế mà lập tri!Cả năm vị đồng thở phào, nhẹ nhõm. Họ quá tâm đắc vào thời pháp, quá tri ân về sự giảng giải tận tình của đức Thế Tôn – nên họ đồng sụp quỳ xuống lạy tạ và rơm rớm nước mắt. Tối hôm kia, tỳ-khưu Koṇḍañña có lẽ do nhiều suy nghĩ bởi thời pháp nên đã đặt câu hỏi:- Trong khi giảng về Tứ thánh đế, đức Thế Tôn nhấn mạnh tuệ nhãn, tuệ trí, tuệ giác, tuệ minh; nhưng đạo lộ dẫn đến Niết-bàn, là Bát thánh đạo, Bát chánh đạo – con đường Trung đạođể tu tập, không thấy nói đến chánh tuệ, không thấy một tuệ nào được đề cập? Chỉ có niệm đưa đến định?Đức Phật vừa lòng với câu hỏi vô cùng:- Koṇḍañña, ông là bậc trí, đặt câu hỏi như ngón trỏ chỉ thẳng vào cái cơ yếu, cái căn để. Đúng vậy, câu hỏi của ông chính là những vấn đề mà Như Lai định tuyên thuyết hôm nay.Nầy chư tỳ-khưu! Sau khi trình bày về khổ, Như Lai nói nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường dẫn đến sự diệt khổ. Con đường ấy, lộ trình Bát chánh - Như Lai cũng đã giảng giải khái quát và chi tiết, nhưng không có chánh tuệ! Các thời pháp hôm trước, Như Lai đề cậpchánh kiến như là yếu tố đầu tiên rồi cuối cùng mới dẫn đến chánh định. Thứ tự ấy là đúng, vì thấy đúng thì tất cả đều đúng, nếu thấy sai thì tất cả đều sai! Tuy nhiên, đấy chỉ là phương pháp giả lập. Nếu có người hỏi rằng, làm sao, mới nghe giáo pháp, mới tu tập mà có được chánh kiến cao cả, vô thượng, trong sáng và vô nhiễm ấy? Câu hỏi rất hay, rất xác đáng. Muốn có chánh kiến ấy thì phải có chánh định, định tâm chân chánh, giải thoát! Muốn có định tâm chơn chánh, giải thoát thì phải có chánh niệm, ghi nhận các pháp đúng như thực tướng. Muốn có chánh niệm như thực ấy thì phải có ngữ, nghiệp, mạng thanh tịnh. Và muốn có ngữ, nghiệp, mạng chơn chánh như thế thì phải cần có kiến và tư duy chơn chánh dẫn dắt. Hóa ra là nó đi vòng tròn. Vòng tròn cũng không chính xác, phải nói là tương quan, tương tác. Tương quan, tưong tác cũng không chính xác mà nó đồng sinh. Nếu có tuệ minh sát nhìn ngắm thì ngay trong sát-na của đạo lộ thì tâm tuệ viên dung, có chánh kiến soi chiếu - tuệ tâm sở - thì tất cả mọi chánh kia đều có mặt. Nhưng khi sử dụng ngôn ngữ tại thế thì tạm thời có giả lập thứ tự trước sau.Nầy chư tỳ-khưu! Vì giả lập nên nói có tám nhánh, tám đạo chi. Vì khi nói kiến và tư duy là để mà tu tập trí - tuệ. Nói ngữ, nghiệp, mạng là để mà tu tập thân, khẩu - giới. Nói niệm, định là để mà tu tập tâm - định.Còn chánh tinh tấn thì tùy lúc, tùy khi nó hỗ trợ cho kiến, tư duy, hỗ trợ cho ngữ, nghiệp, mạng, hỗ trợ cho niệm, định. Thân, tâm, trí có giới, định, tuệ an lập và đều cần sự nỗ lực chơn chánh của tấn. Nhưng thân, tâm, trí là vận hành tương tác, bất ly; giới, định, tuệ cũng như thế. Có cái này tất có cái kia, nó duyên khởi. Gọi Bát thánh đạo là chỉ cái viên dung, tròn đầy trong tâm của bậc thánh. Gọi Bát chánh đạo là chỉ cho những sa-môn đang trên đường, đang trong từng giây khắc hoàn thiện bản thân, đang tu tập giới, tu tập định, tu tập tuệ.Nầy chư tỳ-khưu! Như Lai từng nói là niệm dẫn đến định mà niệm cũng dẫn đến tuệ - vì Tứ niệm xứ vừa thành tựu các định sắc giới vừa có khả năng dẫn đến tuệ giải thoát. Tứ niệm xứ viên mãn –chánh niệm viên mãn - thì cần định có định, cần tuệ có tuệ. Khi ấy, chánh định lại dẫn đến chánh kiến, chánh kiến chính là chánh tuệ vậy. Và chánh tuệ nầy, tùy lúc, tùy khi, tùy công năng, cấp độ, tùy hoạt dụng – còn được gọi là trạch pháp giác chi, tuệ như ý túc, tuệ căn, tuệ lực, tuệ tâm sở. Chánh tư duy chính là tầm tâm sở trong thiền chi; khi còn thuộc thế gian thì nó gồm ba loại tầm viễn ly là tầm ly dục, tầm ly sân, tầm ly hại - sẽ thành tựu được ba tâm riêng biệt là vô tham, từ và bi; nhưng ở trong đạo lộ xuất thế, chúng chỉ là một do đoạn tận dục tham, sân và hại. Chánh ngữ bao gồm bốn thiện ngữ nghiệp là đủ rồi. Chánh nghiệp bao gồm ba thiện thân hành là đủ rồi. Chánh mạng được hiển lộ một đời sống thiểu dục, tri túc là đủ rồi. Ngữ, nghiệp, mạng – còn được gọi là ba tiết chế tâm sở - là giới hạnh được bậc trí ưa thích, tán dương, nó thường được củng cố nhờ tín căn và tín lực. Chánh tinh tấn hỗ trợ cho bất cứ đâu cần đến – như đã nói – nó gồm tứ chánh cần, tấn tâm sở, tấn căn, tấn lực và tinh tấn giác chi. Chánh niệm bao gồm tứ niệm xứ, niệm tâm sở, niệm căn, niệm lực và niệm giác chi. Chánh định bao gồm các định có tầm, có tứ - vì còn sử dụng để quán - nhất tâm tâm sở, định căn, định lực – còn kể chung luôn hỷ, an, định, xả của giác chi…Và nầy chư tỳ-khưu! Nếu Bát chánh đạo, Bát đạo chi không được hiểu rõ, không được thấy rõ, không được hành trì đúng như Như Lai đã giảng giải – thì có thể bị rơi vào bát tà đạo: tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định; rồi chúng sẽ đưa đến tà tuệ và tà giải thoát!Đến ngang đây, các vị tỳ-khưu dường như đồng thanh nói:- Chúng đệ tử rợn ngợp về giáo pháp này. Kể về chi tiết, mạch lạc thì chúng riêng lẽ như từng cái cá biệt; nhưng chúng lại lẫn trong nhau, tan hòa trong nhau khó phân ra biên giới một cách rạch ròi! Bạch đức Thế Tôn, như vậy là đủ rồi, như vậy là quá dư thừa để cho chúng đệ tử có thể có thời gian lãnh hội thấu đáo. Chúng đệ tử còn cần phải suy gẫm, chiệm nghiệm từ trong mỗi động thái, cử chỉ, oai nghi, từng hơi thở, từng khởi sanh của tâm niệm. Giáo pháp này, quả thật, không phải tìm sự hợp lý trong suy luận mà phải hiện quán để chứng thực, chứng nghiệm, bạch đức Thế Tôn!- Lành thay, các ông đã hiểu, đã thấy một phần nào. Như Lai hy vọng rằng, chỉ ít hôm nữa thôi, các ông không những thông tỏ toàn vẹn đạo lộ xuất thế, mà còn chấm dứt tất thảy mọi nghi nan về chuyện Niết-bàn là phi hữu, hư vô, thường trụ hay phi sở tạo!Cả năm vị tỳ khưu đồng giật mình, lông tóc dựng ngược: Đúng là sự thấy biết bất khả tư nghì của bậc Chánh Đẳng Giác!
******

KINH VÔ NGÃ TƯỚNG
(Anattalakkhana sutta)

Lộc Uyển - Vườn Nai, địa thế xinh tươi, mát mẻ, trong lành như một ốc đảo thanh bình. Có những tàn me cổ thụ, có những gốc cây Sāla sừng sững, có những cội Assattha uy nghi, đường bệ, có những hàng xoài rậm rạp – chúng vừa tỏa bóng mát vừa thanh lọc môi trường nên lúc nào cũng cảm giác không khí trong trẻo, không một hạt bụi. Miền tụ lạc thạnh mậu nầy – Isipatana (Chư tiên đọa xứ) - cách thành phố Bārāṇasī chỉ non một do-tuần (bây giờ là 11 km), là nơi cư dân đông đúc, sinh hoạt bán mua và cả sinh hoạt tôn giáo rất là sầm uất và nhộn nhịp.Cứ mỗi buổi sáng, vệ sinh, thiền định, kinh hành xong, đợi mặt trời vừa rạng ở chân trời là ba vị tỳ-khưu thay phiên nhau để đi trì bình khất thực; riêng đức Phật thì họ cúc cung, tận tụy cúng dường. Do đã hiểu con đường trung đạo, tri túc thiểu dục là chính, họ không còn ăn vật thực cỡ bằng nắm tay nữa, phải đủ chất để nuôi dưỡng cái thân mà tu tập. Bước chân thong dong, nhàn nhã đã đưa họ đến những thôn làng trù phú, đôi khi đi vào thành phố. Vật thực luôn đầy đủ, đủ cả lượng, đủ cả chất. Tuy nhiên, theo ý của vị trưởng lão - tỳ-khưu Koṇḍañña – thì tránh đi vào thành phố, vì đấy là thành phố của bà-la-môn giáo. Tín đồ của bà-la-môn giáo ở đây khá cực đoan, nếu họ thấy một loại tu sĩ áo vàng, tóc râu sạch sẽ, khác tu sĩ của họ - thì họ thường tỏ thái độ khinh ghét, miệt thị, nói lời bất nhã, đôi khi lại trở ngại cho việc khất thực. Chẳng phải sợ hãi gì, nhưng tránh sự va chạm hoặc hiểu lầm không cần thiết khi đang ở giai đoạn chiêm nghiệm giáo pháp bất tử, còn mới mẻ đối với họ quá. Niềm tin thì ai cũng đã vững vàng; nhưng khi chưa trang bị đủ kiến văn thì lúc ăn nói, giao tiếp, xúc đối khó tránh khỏi những phát ngôn bất cập, thiển cận – có hại cho uy tín của đức Tôn Sư.Qua chỉ hơn mười ngày sau khi ăn uống, sinh hoạt trung đạo trở lại, họ đều đã có da có thịt, trông đã khá hơn những năm tháng khổ hạnh. Nhờ tiết độ, nhờ hỷ lạc, vị nào trông cũng có khí sắc với những cặp mắt đều long lanh sáng. Khi dừng chân nghỉ ngơi, tránh mưa hoặc tránh bụi bùn do cả đoàn xe ngựa, xe bò thồ hành tấp nập trên đường, họ thảo luận với nhau.Mahānāma nói:- Đức Phật khi còn là thái tử nổi tiếng về sở học, ba tập Vệ-đà và mười tám môn học nghệ chẳng có gì là không uyên bác. Y dược cũng vậy. Ngài trình bày Tứ diệu đế như cách nói của một vị lương y. Bệnh này, nguyên nhân của bệnh này, muốn cho lành, muốn chấm dứt bệnh này thì phải uống thuốc như thế này!Vappa phụ họa:- Đúng thế! Có nhiều cách lập luận rút ra từ đó cũng hay lắm! Này nhé, đói nè, nguyên nhân của đói là do mất mùa nè, muốn sung túc, đầy đủ, khỏi đói là phải biết cần mẫn, chăm lo nông vụ và mưa nắng thuận hòa nè!Bhaddiya tỏ ra biết triển khai vấn đề:- Tuyệt! Nhưng cũng còn rất nhiều cách nói khác nữa. Ngu si này, nguyên nhân của ngu si là do không nghe, không học hỏi; muốn sáng suốt, thông tuệ thì phải biết học hỏi, thực hành giáo pháp!Ngoài ra, đôi lúc họ thảo luận đến những điểm trong bài kinh Chuyển pháp luân, những chỗ khó lãnh hội ở Diệt đế và Đạo đế. Chiều tối đến, nếu Koṇḍañña không trả lời được thì họ hỏi đức Phật, và lúc nào thì ngài cũng sẵn sàng. Đức Phật đã chuẩn bị và còn đang sẵn sàng để giảng một thời pháp quan trọng nữa. Thời pháp này hoàn toàn đi ngược lại truyền thống tôn giáo cũ. Và từ xưa đến nay, chưa hề có một ý tưởng, một luận điểm nào như thế được nêu lên. Dường như sau khi chứng ngộ dưới cội bồ-đề, từ trung tâm điểm của tuệ giác, giáo pháp cứ từ đó mà tỏa ra, không nói theo ai, không lập lại những kiến thức cũ mòn - đức Phật biết rõ như vậy.Hôm kia, một buổi chiều tạnh ráo, đúng vào ngày ba mươi tháng Āsāḷha, biết là cả năm vị tỳ-khưu đã chuẩn bị sẵn sàng tâm và trí - đức Phật gọi họ đến, quây quần dưới cội cây Assatthato lớn nhất trong vườn, rồi bắt đầu buổi thuyết pháp:- Nầy chư vị tỳ-khưu! Đây là thời pháp vô cùng quan trọng, được Như Lai gọi là Vô ngã tướng. Mấy hôm trước, Như Lai có nói khái quát về Tứ niệm xứ, tức là niệm thân, thọ, tâm, pháp; nay Như Lai muốn triển khai đề tài ấy theo một chiều hướng khác, cách nói khác, cũng xoay quanh những chi tiết như thực liên hệ đến thân và tâm này. Với những người có trí, nghe xong tức thấu hiểu, nghe xong tất có thể giải thoát mọi triền, mọi phược, mọi bộc, mọi lưu, mọi cấu, mọi uế.. Chư vị hãy cố gắng lắng nghe!- Dạ, thưa vâng, bạch đức Tôn Sư!- Cái tạo nên thân tâm chúng ta, nếu nhìn ngắm, minh sát cho kỹ thì thân ấy là sắc thân (rūpa, sắc) này; còn cái gọi là tâm – hay danh - thì gồm có cảm giác (vedanā, thọ), tri giác (saññā, tưởng), tâm hành (saṅkhārā, hành) và nhận thức (viññāṇa).Đầu tiên hãy quan sát cái sắc (rūpa), tức là cái thân có da, có thịt này; có khi nào chư vị đặt vấn đề, nó chính là ta (atta, ngã) hay không phải ta (anatta, vô ngã)?Koṇḍañña đáp:- Theo thói quen thì thân này, cái sắc này là tôi, là của tôi, trong ấy nó có một cái ngã - bạch đức Thế Tôn!- Thói quen ấy có đúng không, này Koṇḍañña? Nếu sắc này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi - thì tôi hoàn toàn có quyền làm chủ nó, sở hữu nó?- Đúng vậy, thưa đức Tôn Sư!- Có phải như một vị vua, sở hữu quốc độ, sở hữu thần dân; và có quyền bắt mọi người - từ quan lại đến thứ dân - phải làm như thế này, phải làm như thế kia; nếu không làm thì vua sẽ răn đe, trừng phạt theo nặng, nhẹ tội chứng?- Bạch, đúng vậy, là quan niệm của phần đông!- Nầy Koṇḍañña! Nếu sắc thân này là ta, là của ta như ông vua sở hữu thần dân và quốc độ - thì giả dụ như khi cái thân này ốm bệnh, đau nhức; và vì ta có quyền nên ta có thể bảo cái thân này đừng ốm bệnh, đừng đau nhức, có được không, hở Koṇḍañña?Koṇḍañña im lặng, lúng túng không trả lời được.- Khi cái thân này suy yếu, già lão – vì nó là ta, là của ta – nên ta có quyền bảo: “cái thân, mày đừng suy yếu, đừng già lão” được không, hở Koṇḍañña?- Chẳng có quyền, chẳng chỉ bảo gì được, bạch đức Thế Tôn!- Vì ta là chủ, nên ta có quyền bảo rằng, sắc thân của ta phải như thế này, sắc thân của ta đừng như thế kia?- Chịu! bạch đức Tôn Sư!Im lặng giây lát, đức Phật nói:- Vậy thì ta không có quyền gì cả đối với sắc thân này? Nó già, nó yếu, nó bệnh gì ta cũng chịu thôi?- Thưa, đúng! Ta chịu thôi!- Vậy thì tại sao mọi người thường lập ngôn: sắc này là ta, là của ta, là tự ngã của ta?- Lập ngôn ấy không đúng với sự thật rồi!- Vậy, phải nói đúng với sự thật, với như thật là: sắc không phải ta, chẳng phải của ta, chẳng phải tự ngã của ta?- Thưa, đúng như vậy!Đức Phật chợt cao giọng:- Nầy chư tỳ-khưu! Không những chỉ có sắc này, mà bất cứ sắc nào trong quá khứ, hiện tại, vị lai, sắc bên trong hay bên ngoài, sắc thô tháo hay vi tế, sắc hạ liệt hay cao sang, sắc gần hay sắc xa - tất cả sắc ấy đều không phải ta, là của ta, là tự ngã của ta!Điều này quả là mới mẻ đối với cả năm vị tỳ-khưu nên họ chỉ cúi đầu lắng nghe rất chăm chú và nghiêm túc.Đức Phật giảng tiếp:- Các cảm giác, cảm thọ cũng tương tự thế, nầy chư tỳ-khưu! Khi ta khó chịu, tê ngứa hoặc đau nhức (khổ) – ta cũng không làm chủ được, ta cũng không thể bảo nó đừng ngứa, đừng tê, đừng đau nhức! Khi có những cảm thọ dễ chịu, hân hoan, thích thú (lạc) – ta cũng không thể bảo: mày cứ ở lại đây, đừng có ra đi, đừng có diệt mất – vì thật ra, nó ở hay đi là tùy theo nó, ta chẳng có quyền gì cả!- Chúng đệ tử hiểu rồi, vì các cảm thọ cũng không phải là ta, là của ta, là tự ngã của ta!- Cho chí cảm thọ quá khứ, hiện tại, vị lai; cảm thọ thô tháo hay vi tế, cảm thọ bên trong hay bên ngoài, gần hay xa, hạ liệt hay cao sang - tất cả chúng đều không là ta, là của ta, là tự ngã của ta!Koṇḍañña chợt nói:- Bạch đức Thế Tôn! Chúng đệ tử hiểu rồi! Nếu sắc, thọ là vậy thì tưởng (tri giác), hành (tâm hành) và thức (nhận thức) cũng đều phải được minh sát cho phù hợp với chân lý như thế. Nghĩa là tất thảy chúng - ngũ uẩn - đều không phải là ta, là của ta, là tự ngã của ta (etaṃ mama, eso’haṃ’asmi, eso me attā’ti)!- Đúng vậy! Đức Phật nhè nhẹ gật đầu – Cái mà ta tri giác, cảm biết vật này, vật kia, màu sắc ra sao, hình dáng như thế nào hoặc khi ta tưởng tượng cái này, chuyện nọ ở hiện tại, quá khứ hay vị lai - tất thảy chúng đều đến rồi đi theo định luật duyên khởi – tri giác ấy, quả thật không phải ta, là của ta, là tự ngã của ta. Các trạng thái tâm – tâm hành – cũng tương tự như dòng sông, chúng có được do các giọt nước kế tục trôi chảy; tâm này diệt thì tâm kia sinh. Tham, sân, si, mạn, nghi, tật, xan, hối… hoặc niệm, bi, hỷ, tư, tuệ… thương, ghét, hổ thẹn, không hổ thẹn, lúc tốt lúc xấu, lúc nóng, lúc mát, lúc nhẹ nhàng… cứ kế tục nhau, chẳng có cái ta nào, cái ngã nào ở đấy cả! Rồi cho chí cái biết của con mắt, lỗ tai… cái biết, cái nhận thức của ý thức, ghi nhận, kinh nghiệm, so sánh, phân biệt, lưu giữ sự việc, khái niệm, thiện hay bất thiện – chúng cũng đến rồi đi, duyên sanh rồi diệt – quá khứ, hiện tại, vị lai, xa hay gần, cao hay thấp, hèn hay sang, thô hay tế, cõi này hay cõi kia đều không có ngã, không có ngã sở!Vậy nầy chư tỳ-khưu! Khi mà sắc, thọ, tưởng, hành, thức ấy là không phải ta, là của ta, là tự ngã của ta – thì có hợp lý không, đúng với sự thật không – khi chúng ta thường nói rằng: Thân tôi già, tôi đau nhức, tôi tri giác, tôi quyết định, tôi nhận thức?- Quả thật là không có cái tôi ấy, bạch đức Tôn Sư!- Nầy chư tỳ-khưu! Sắc, thọ, tưởng, hành, thức chỉ là sắc, thọ, tưởng, hành, thức – chúng là năm bộ phận riêng lẻ, năm dòng sông trôi chảy, kết hợp nên cái gọi là chúng sanh, một hữu tình - chẳng có cái ta nào, cái ngã nào (atta, atman) ở đấy cả, có phải thế chăng? Còn nữa, sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều trôi chảy, thay đổi, biến dịch - vậy thì chúng là thường (nicca) hay vô thường (anicca)?- Thưa, rõ ràng là chúng vô thường!- Đã là vô thường thì tất thảy chúng đều là dukkha – dukkha không chỉ là khổ theo nghĩa thông tục – mà còn bao hàm tất cả khổ, khi chúng: Có đó rồi không đó, bất toàn, rỗng không, chẳng an lập được, không nắm bắt được mà cũng chẳng thể thủ đắc - dù một sắc tướng, một bóng hình, một cảm giác, một trạng thái tâm, một ý nghĩ, một tư tưởng, một ước mơ, một mục đích, một lý tưởng! Chúng như ảo ảnh giữa sa mạc, như bọt nước, như ảo giác, như giấc mộng đêm qua, như trò huyễn thuật…Lại nữa, trên sự thiết lập, định vị tạm thời giữa không gian - vì chẳng có cái ngã nào, cái tự tính, cái thực thể nào nên gọi là vô ngã; trong sự trôi chảy miên tồn không gián cách của thời gian, cái gì cũng thay đổi, biến dịch, không giữ được bất di, bất động, một trạng thái dù qua một sát na – nên gọi chúng là vô thường. Vì vô ngã, vô thường nên chúng là dukkha; đây là sự thật, là chân lý khi chúng ta tu tập nội quán để thấy rõ thực tướng của ngũ uẩn, của sắc, thọ, tưởng, hành và thức.Koṇḍañña chợt hỏi:- Bạch đức Thế Tôn! Khi giảng Chuyển pháp luân, nói về Tứ thánh đế, đầu tiên là Khổ đế, ngài có nói đến Bát khổ; và ngũ thủ uẩn khổ là cái bao hàm, cái rốt ráo gói gọn nơi cái thân tâm này. Hôm nay, đức Thế Tôn cũng dẫn đến sự tu tập nội quán để thấy rõ thực tướng của ngũ uẩnấy: Tất thảy chúng là vô ngã, vô thường nên chúng là dukkha! Vậy thì tất cả các pháp, nội và ngoại, nhỏ như vi trần, lớn như sơn hà đại địa – chúng có nằm trong hệ luận ấy chăng?- Hệ luận ấy không thiết lập! Phải có ngoại trừ, giới hạn, này Koṇḍañña! Tại sao vậy?Thiên nhiên ngoại vật, sông núi, nắng mưa, ngày đêm, xuân hạ thu đông – chúng cũng không có tự tính, không có thực tính, là vô ngã tính, chúng cũng thay đổi, cũng biến dịch, là vô thường – nhưng chúng không phải dukkha. Lá xanh, lá vàng; trăng mọc, trăng lặn; hoa nở, hoa tàn; khói thành mây, mây thành mưa - tất cả chúng đều vô ngã, vô thường nhưng không phải dukkha. Vô ngã, vô thưòng của thiên nhiên ngoại vật, của vạn hữu ấy là chân lý tất yếu, không có nó thì một hạt vi trần cũng không tồn tại, nhưng ở đấy dukkha không hiện khởi.Nầy chư tỳ-khưu! Giáo pháp vô ngã tướng của Như Lai được thiết lập là để mà tu tập, để nhìn vào bên trong - nội quán, minh sát - để chấm dứt dukkha. Từ lâu, các tư tưởng truyền thống cũng như quan niệm của phần đông đều cho rằng, có một cái ngã, một thực hữu, một tự tánh, một linh hồn ở nơi sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, nơi ngũ uẩn này. Từ nhận thức sai lầm ấy, biết bao nhiêu là đau thương, thống khổ, trầm luân, tử sinh cũng khởi từ cái ngã và ngã sở ấy cả.Nầy chư tỳ-khưu! Hãy nội quán mà xem! Một cảm thọ dễ chịu, khó chịu; một đối tượng mình thương, ghét, yêu, hận… các trạng thái thay đổi tâm lý thất thường, vô ngã tính, biến dịch ấy – vô ngã, vô thường - mới đưa đến dukkha. Nguyên nhân của tất thảy dukkha ấy là do Ái. Ái diệt là Niết-bàn. Tu tập theo Bát chánh, nhìn thấy rõ ngũ uẩn như thực tướng thì toàn bộ dukkha không tồn tại, gọi là khổ diệt đạo thánh đế!- Bạch đức Thế Tôn! Thấy rõ sắc như thực tướng, thọ như thực tướng… hay là thấy rõ sắc uẩn như thực tướng, thọ uẩn như thực tướng? Nó giống nhau ra sao, khác nhau ra sao?Koṇḍañña hỏi.- Ừ, câu hỏi này trỏ thẳng vào vấn đề - đức Phật khen ngợi - Sắc như thực tướng là sắckhông có uẩn, thọ như thực tưóng là thọ không có uẩn. Chính uẩn là cái che lấp, chất chồng lên sắc mà thành sắc uẩn. Chính uẩn là cái che lấp, chất chồng lên thọ mà thành thọ uẩn…- Xin đức Thế Tôn đưa ví dụ để cho chúng đệ tử có thể lãnh hội được điểm trọng yếu này –Vappa nói.- Một đối tượng, một sắc tướng - ví dụ một người - khi mình thương hay ghét (ái) họ thì mình đã che lấp (uẩn) cái thực tuớng ấy rồi, đã biến thành sắc uẩn rồi! Nghe một tiếng nói, khi mình thương thì âm thanh đó hay, dễ chịu; nhưng khi mình ghét người ấy thì âm thanh kia trở nên khó chịu, bực bội. Tại sao vậy? Vì các cảm thọ ấy đã bị che lấp (uẩn) do thương hay ghét (ái), đã biến thành thọ uẩn rồi!Nầy chư tỳ-khưu! Chính do uẩn, do ái ấy mà sinh các khổ. Đã vậy còn chưa đủ, còn chấp rằng sắc uẩn ấy là ta, là của ta, thọ uẩn ấy là ta, là của ta… Và chính ngũ thủ uẩn ấy là nguyên nhân bao hàm tất thảy khổ mà những người tu tập nội quán, minh sát cần phải thấy rõ!Nầy chư tỳ khưu! Với tuệ quán, tuệ minh, tuệ như thực – Như Lai đã nhìn ra chân tướng, thấy rõ ngũ uẩn ấy không phải ta, không phải của ta, chẳng phải tự ngã của ta. Nay thì các bậc thánh Thinh Văn - đệ tử của Như Lai - cũng phải biết nhàm chán sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Khi nhàm chán như vậy thì tâm không còn đam mê, tham muốn, ái luyến trong ngũ uẩn ấy nữa. Và khi mà không còn dục, ái, tham thì thoát ly mọi ràng buộc, trói buộc, dính mắc. Tâm được trạm nhiên giải thoát. Khi đã giải thoát thì vị ấy biết mình đã giải thoát, dòng sinh tử chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã được thành tựu, mọi phận sự đã được làm xong, biết rõ từ nay không còn tái sanh luân hồi nữa!Đức Phật thuyết giáo pháp vô ngã tướng xong, năm vị tỳ-khưu đồng quỳ xuống sụp lạy, vô cùng hoan hỷ. Tâm và trí họ đã trở nên sáng suốt, thanh tịnh, đã viễn ly mọi nhiễm ô, đã lìa thoát mọi chấp thủ ngũ uẩn. Họ đã đắc quả vị A-la-hán, đã giải thoát, đã thấy rõ Niết-bàn!Ngay giây phút ấy, quả địa cầu rung động; và chư thiên, phạm thiên các cõi đã tán thán, ca tụng; làm chứng nhân cho rằng là đã có 5 vị tỳ-khưu, 5 bậc thánh A-la-hán đã xuất sinh trên châu Diêm-phù-đề nầy! Là những Thánh đệ tử, được xem là nền tảng vững chắc cho giáo hội đầu tiên của đức Tôn Sư vậy.